Trang chủ 60 NĂM GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ Truyền thống tốt đẹp của người Hà Nội

Truyền thống tốt đẹp của người Hà Nội

 

Hà Nội là kinh đô rất sớm của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam và từ năm 1945 là Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Văn hóa Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội không phải là nền văn hoá “bản địa khép kín” trong khuôn khổ một cộng đồng biệt lập mà nơi đây là trung tâm hội tụ tài năng, ý chí, bản sắc và bản lĩnh của mọi miền đất nước quy nhập vào, trở thành biểu tượng cho sức sống bất diệt của dân tộc trong giao lưu khu vực và quốc tế. Sức mạnh tinh thần của người Hà Nội luôn luôn được bảo lưu, kế thừa và phát triển để đáp ứng với yêu cầu của dân tộc và thời đại. Trong sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh, Hà Nội đã và đang phát huy truyền thống ngàn năm văn hiến của mình để ngày càng xứng đáng với vị trí là trung tâm đầu não của cả nước.


Mua-ve-may-bay-Vietnam-Airlines-Tuy-Hoa-di-Ha-Noi.PNG2 Cầu Thê Húc, Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội

Giá trị tinh thần của người Hà Nội được hình thành rất sớm, gắn liền với sự hình thành lịch sử dân tộc. Theo thống kê chưa đầy đủ thì Hà Nội đã có 24 làng cổ và các di tích thuộc thời tiền sử và sơ sử. Một số lượng lớn các di vật độc đáo từ trống đồng, thạp đồng, đến các công cụ sản xuất và đồ trang sức đã phản ánh đời sống văn hoá của cư dân ở đây có từ gần 4.000 năm trước. Bên cạnh các nghề trồng lúa, săn bắn, đánh cá, dệt vải, làm đồ gốm, đúc đồng, người Hà Nội đã phát triển sớm về tư duy khoa học, tư duy nghệ thuật, tạo lập cho mình một thế giới tinh thần đa dạng và phong phú, tạo thành lối sống, nếp sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng tâm linh riêng. Trước khi nhà Lý định đô ở Hà Nội, nước ta đã có nhiều kinh đô. Đó là kinh đô Phong Châu của thời Văn Lang, kinh đô Cổ Loa của nhà nước Âu Lạc, kinh đô Mê Linh của Hai Bà Trưng, kinh đô Luy Lâu của thời Bắc thuộc, kinh đô Hoa Lư của triều đại Đinh Lê. Việc Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư đến Đại La, đổi tên là Thăng Long vào năm 1010 không chỉ phản ánh tầm cao văn hoá của triều đại nhà Lý, mà mặt khác, nó cũng thể hiện sức hấp dẫn tự thân của vùng “địa linh nhân kiệt” có khả năng “tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước”. Sức mạnh của mọi triều đại chỉ có thể tìm kiếm ở nhân dân. Người dân Hà Nội cùng với nhân dân cả nước đã phát huy sức mạnh tinh thần của mình để khẳng định quyền độc lập tự chủ của quốc gia độc lập trong suốt trường kỳ lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Giá trị văn hoá tinh thần tiêu biểu và đậm nét nhất trong truyền thống văn hoá của người dân Hà Nội là truyền thống yêu nước chống xâm lược, xây dựng và bảo vệ Thủ đô. Hào khí chống xâm lược bảo vệ sự bình yên của dải đất sông Hồng này đã được thể hiện trong huyền thoại Thánh Gióng, đời vua Hùng thứ 6. Khi giặc Ân đến cướp nước ta, ông Gióng đã được nuôi dưỡng bằng sức mạnh của toàn dân, vươn lên trở thành người anh hùng cứu nước, cứu dân. ở khu vực Hà Nội có tới 23 vị tướng đem quân theo ông Gióng đi đánh giặc. Ông là người có công cứu nước, cứu dân được nhân dân suy tôn và phong “Thánh” để bất tử trong mọi thời đại, nêu gương sáng cho nhân dân noi theo. Đến thời vua An Dương Vương xây thành Cổ Loa ở Đông Anh, câu chuyện tình Mỵ Châu - Trọng Thuỷ để lại bài học vô giá về tinh thần cảnh giác với hoạ xâm lăng. Phong trào Hai Bà Trưng khởi nghĩa đã lôi cuốn sự ủng hộ của nhiều tướng và quân sĩ. Lý Nam Đế đóng quân ở cửa sông Tô Lịch và lập đô kỳ Ô Diên ở Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng. Triệu Việt Vương đánh du kích ở đầm Dạ Trạch...- Tất cả đều để lại tấm gương sáng về lòng yêu nước của người Hà Nội.

Thời nhà Đường chiếm nước ta, đóng phủ đô hộ ở Hà Nội. Triệu Xương đắp La Thành, sau đó Cao Biền mở rộng ra. Bố Cái Đại Vương là người thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, Ba Vì đã đem một đoàn dũng sĩ đến vây đô hộ phủ. Rồi đến Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền đã liên tiếp đuổi hết thù trong giặc ngoài, dựng nghiệp lớn để khẳng định chủ quyền của nước Việt Nam độc lập.

Năm 1010, Lý Công Uẩn hạ Chiếu dời đô và chuyển về định đô ở Thăng Long, mở ra một thời kỳ phát triển mới của lịch sử Thăng Long nói riêng, lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung. Thăng Long trở thành biểu tượng cho sức mạnh tinh thần của dân tộc Việt Nam trong chiến đấu chống xâm lược và xây dựng đất nước. Người Hà Nội, dù là dân bản địa hay dân mới nhập cư từ các miền đất khác đến đều đồng tâm hiệp lực để bảo vệ biên cương của đất nước và tạo lập cuộc sống thanh bình.

Thời kỳ vàng son của chế độ phong kiến Việt Nam gắn liền với các chiến công hiển hách chống xâm lược. Lý Thường Kiệt, vốn họ Ngô, tên Tuấn ở làng An Xá, huyện Quảng Đức (Gia Lâm, Hà Nội). Ông là người tài cao, đức rộng, chí lớn, thương dân, đã lập nhiều chiến công trong trị nước, yên dân và dẹp giặc. Khi nhà Tống chuẩn bị xâm lược nước ta, lúc hội đàm với các đại thần, ông là người đầu tiên trong lịch sử dân tộc dám đề ra tư tưởng tiến công: “Ngồi yên đợi giặc sao bằng đem quân đánh trước để chặn các mũi nhọn của giặc”. Đây là cơ sở chiến lược “tiên phát chế nhân”. Ông là người nhìn xa trông rộng, phạt Bắc chinh Nam, suốt đời tận tuỵ với dân với nước. Ông được lịch sử ghi nhận như người hiến dâng cả tâm hồn, trí tuệ, sức lực và tài năng cho sự nghiệp độc lập của Tổ quốc Việt Nam ở giai đoạn đầu thời kỳ tự chủ. Theo Lê quý Đôn, tài năng quân sự kiệt xuất của Lý Thường Kiệt đã làm cho chính sử Tống phải thừa nhận. Binh pháp “đánh đâu thắng đó” của nhà Lý đã được Sái Diên Khánh nhà Tống mô phỏng và được Tống Thần Tông “cho là phải”. Bài thơ Thần của ông được lịch sử ghi nhận như bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam.

Hội nghị Diên Hồng thời Trần đi vào lịch sử như một hào khí quyết tâm tiêu diệt quân thù của người dân Thăng Long, đại diện cho hào khí chung của dân tộc Việt Nam bất khuất và kiên cường trong chống xâm lược.

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1228-1300) là một vị anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hoá, một thiên tài quân sự kiệt xuất. Nhân cách và tài năng lớn của ông đã vượt quá tầm cỡ của con người để trở thành “thánh” trong đời sống tinh thần dân tộc. Ông là người biết trọng dụng nhân tài. Các anh hùng như Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng v.v. đều từ cửa trướng của ông mà ra. Trần Quốc Tuấn đã soạn hai bộ binh thư: Binh thư yếu lược và Vạn kiếp tông bí truyền thư để dạy tướng sĩ cách cầm quân đánh giặc. Ông là hiện thân của tinh thần đại nghĩa, đại nhân, đại trí, đại dũng, đại tín của dân tộc Việt Nam. Hai tháng trước khi ông mất, vua Trần Anh Tông đến thăm ông, hỏi kế sách giữ nước, ông đã để lại những lời tổng kết chính xác với mọi thời đại: Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước.

Ông được nhân dân cả nước tưởng nhớ, suy tôn là người “cha của dân tộc”, “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”; là Thánh, “Đức Thánh Trần”.

Người Hà Nội và nhân dân cả nước đều nhớ đến người thầy giáo Chu Văn An (1291-1370) - nhà sư phạm lỗi lạc cuối thời Trần. Chu Văn An người làng Quang (Thanh Liệt, Thanh Trì) đỗ Thái học sinh đời Trần. Đỗ xong về làng dạy học. Học trò của ông có nhiều người tài cao, đức trọng như Phạm Sư Mạnh. Vua Trần xuống chiếu, đưa ông ra giảng ở Quốc Tử Giám. Đến đời Trần Dụ Tông, vua quan nhiễu loạn, dân chúng cực khổ. Ông dâng Thất trảm sớ, xin chém bảy tên quan nịnh thần. Vua ra sớ rồi làm ngơ. Ông “treo ấn từ quan” về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, lấy hiệu là “Tiều ẩn” (Người đi ẩn hái củi). Phan Huy Chú đã ca ngợi ông: “học nghiệp thuần tuý, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được”[1].

Chùa Một Cột, Hà Nội

Triều đại nhà Lê đã phát huy khí phách anh hùng chống ngoại xâm của dân tộc và đưa chế độ phong kiến Việt Nam đạt đến một đỉnh cao mới trong cuộc kháng chiến chống quân Minh và xây dựng quốc gia phong kiến tự chủ. Lê Lợi (1385-1433) là người anh hùng giải phóng dân tộc và người sáng lập vương triều Lê. Tư tưởng “thân dân” dựa vào nhân dân để thực hiện chiến tranh giải phóng dân tộc là một tư tưởng mới mẻ và tiến bộ của ông. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi kết thúc 20 năm thống trị của giặc Minh, khôi phục nền độc lập lâu dài cho Tổ quốc. Thăng Long được khôi phục trở lại là đế đô của đất nước. Đây là một cơ hội để Thăng Long chào đón anh tài, hào kiệt từ khắp mọi miền trở về để tạo lập đế đô. Chính sách phát triển văn hoá, giáo dục của Lê Lợi bên cạnh chính sách phục hồi và đẩy mạnh phát triển kinh tế đã tạo nên bước phát triển mới của kinh đô Thăng Long.

Nguyễn Trãi (1380 - 1442) sinh ra ở đất Thăng Long. Vì từ chối sự mua chuộc của nhà Minh nên ông đã bị cầm tù ngay ở thành Thăng Long. Ông đã thực hiện lời cha là Nguyễn Phi Khanh, quyết nuôi chí lớn để rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, giữ trọn chữ “đại hiếu”. Bình Ngô sách của ông đã giúp cho Lê Lợi đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn để phát triển lực lượng, tiêu diệt kẻ thù. Bài Bình Ngô đại cáo của ông được đánh giá là “Thiên cổ hùng văn”, là Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc, khẳng định hào khí của dân tộc trong cuộc chiến đấu chống xâm lược bảo vệ đất nước. Những tác phẩm kiệt xuất của ông như Quân trung từ mệnh tập, Quốc âm thi tập... là những tác phẩm vô giá phản ánh tầm cao và chiều sâu của tư tưởng dân tộc kết tinh ở người anh hùng dân tộc, nhà thơ, nhà văn hoá lớn của nước ta ở thế kỷ XV. Tâm hồn và sự nghiệp của ông mãi mãi là vì sao sáng như Lê Thánh Tông đã truy tặng: “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”. Nhân cách và sự nghiệp của ông luôn luôn sống trong lòng người dân Thăng Long.

Lê Thánh Tông (1442-1497) đã đưa dân tộc đạt đến một giai đoạn cường thịnh trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Theo sử gia Ngô sĩ Liên đánh giá, Lê Thánh Tông là “vua sáng lập chế độ, mở mang đất đai, bờ cõi khá rộng, văn vật tốt đẹp, thật là vua anh hùng tài lược"[2]. Ông là con người kết tinh nhiều tài năng và tinh hoa của dân tộc. Về phương diện chính trị, ông đã thay đổi hệ thống tổ chức hành chính cũ thời Lê Lợi từ 5 đạo thành 12 đạo, cải tổ cơ chế nhà nước, chú trọng sửa đổi thuế khoá, điền địa, ra chiếu khuyến nông, chiếu lập đồn điền, chiếu định quan chế v.v.. tăng cường sức mạnh quân đội. Lê Thánh Tông là người khởi xướng Bộ luật Hồng Đức - đánh dấu một bước phát triển cao của chế độ phong kiến Việt Nam. Mặt khác, ông cũng là người chăm lo giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc lên một tầm cao mới. Bên cạnh việc xây dựng hệ thống thiết chế văn hoá mới, ông cho mở mang và xây dựng lại khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Lê Thánh Tông đã sáng lập Hội Tao Đàn tập hợp những nhà văn hoá nổi tiếng đương thời mà ông là chủ soái. Ông đã phá án, giải oan và cho sưu tầm lại thơ văn Nguyễn Trãi, cho tạc bia về Nguyễn Trãi. Hàng loạt thành tựu văn hoá đạt được ở thời kỳ này như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô sĩ Liên, Hồng Đức quốc âm thi tập, Hồng Đức thiên hạ bản đồ, Thiên Nam ngữ lục và những sự kiện văn hoá tiêu biểu ở trên đã khẳng định ý chí độc lập tự cường của người dân Thăng Long nói riêng, của dân tộc ta nói chung trong bảo vệ và xây dựng đất nước.

Chính nhờ sinh sống, trưởng thành và phát triển trong một môi trường văn hoá đế đô đầy anh hùng và bất khuất cũng như đầy tài năng và sự khéo léo này mà người Thăng Long - Hà Nội đã tạo lập được cho mình một bản lĩnh và bản sắc riêng trong quá trình phát triển sau này.

Sang đến triều Nguyễn, Hà Nội không còn là kinh đô nữa nhưng nơi đây vẫn là nơi hội tụ tinh anh của dân tộc với Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Vũ Tông Phan, Bà Huyện Thanh Quan, v.v..

Ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước chống Pháp và lên án sự nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn đã xuất hiện trong nhiều tầng lớp nhân dân Hà Nội. Những con người trung nghĩa: Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Lương Ngọc Quyến v.v.. đã thức tỉnh tinh thần yêu nước chống Pháp của nhân dân. Khi Hà Nội đã thành đất nhượng địa của thực dân Pháp, phong trào yêu nước chống Pháp vẫn luôn nổi lên và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Những năm đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã tiến hành chính sách khai thác và bóc lột thuộc địa. Hầu hết các xí nghiệp và công ty lớn của Pháp đều đặt trụ sở chính ở Hà Nội. Các trung tâm thương mại xuất hiện ngày càng nhiều hơn. Tầng lớp tư sản dân tộc dần dần được hình thành ở Hà Nội. Tầng lớp tiểu tư sản ở Hà Nội cũng ngày một đông hơn. Họ là những viên chức, tiểu chủ, tiểu thương, những người làm nghề tự do, giáo viên, học sinh v.v.. Đặc biệt là sự hình thành và phát triển đội ngũ công nhân mới ở Hà Nội... báo hiệu một thời kỳ đấu tranh yêu nước kiểu mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Cuộc vận động yêu nước đầu thế kỷ XX của Phan Bội Châu với phong trào Đông Du đã được nhân dân Hà Nội hưởng ứng tích cực. Song song với phong trào Đông Du còn có phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền đứng ra thành lập ( từ tháng 3-1907 đến tháng 9-1908). Các phong trào này đã tấn công vào hệ tư tưởng phong kiến (đang bị thực dân Pháp lợi dụng), thức tỉnh lòng yêu nước, yêu dân, đi tìm con đường cải cách để giành lại độc lập dân tộc. Tuy không thành công nhưng những làn gió cải cách này đã mở đường cho những tư tưởng mới tràn vào, chuẩn bị tinh thần và tư tưởng cho phong trào đấu tranh liên tục của nhân dân Hà Nội sau này. Phong trào yêu nước lan mạnh trong công nhân đã làm xuất hiện hàng loạt cuộc biểu tình của công nhân Hà Nội chống giới chủ Pháp.

Một sự kiện có ý nghĩa bước ngoặt đối với sự phát triển tinh thần yêu nước chống xâm lược của nhân dân Hà Nội nói riêng, nhân dân cả nước nói chung đầu thế kỷ XX là sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, trước hết là vào phong trào công nhân và nông dân, chuyển hóa từ tự phát thành cuộc đấu tranh tự giác của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ này, Nguyễn ái Quốc đã chuẩn bị rất kỹ về tư tưởng và tổ chức cho phong trào vận động cách mạng Việt Nam theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Những tác phẩm nổi tiếng của Người như báo Người cùng khổ, Thanh niên, các cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Kách mệnh v.v. đã thu hút được sự quan tâm của người dân Hà Nội bất chấp sự đe doạ và khủng bố của thực dân Pháp. Chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên được thành lập năm 1926 ở Hà Nội và các hoạt động của Hội đã tác động sâu sắc đến phong trào yêu nước theo tư tưởng vô sản. Đồng thời đây cũng là cơ sở để hình thành Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Hà Nội (tháng 3-1929) do các đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Phong Sắc v.v. thành lập. Sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3-2-1930), Đảng đã thành lập ban Chấp hành Thành uỷ lâm thời Hà Nội để lãnh đạo và tổ chức phong trào cách mạng của nhân dân Hà Nội.

Trụ sở UBND TP. Hà Nội

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của tinh thần yêu nước chống xâm lược của nhân dân Hà Nội và nhân dân cả nước. Tinh thần yêu nước này được mở rộng trong mối quan hệ chặt chẽ với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, gắn bó chặt chẽ với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang diễn ra trên thế giới.

Cách mạng Tháng Tám thành công, toàn thể nhân dân Hà Nội và đồng bào cả nước lắng nghe bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc giữa Ba Đình lịch sử. Triệu người như một, đều hướng về Trung ương Đảng và Chính phủ, hướng về Chủ tịch Hồ Chí Minh để chiến đấu đến cùng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Chín năm kháng chiến trường kỳ, người Hà Nội hòa vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc. Hàng vạn người con ưu tú của Hà Nội đã hy sinh ở khắp các chiến trường của đất nước. Tinh thần yêu nước của người dân Hà Nội không chỉ thể hiện sâu sắc ở những chiến sĩ trực tiếp cầm súng đánh giặc ngoài mặt trận mà còn thể hiện ở ngay trong sự đối mặt thường ngày của người dân với các chính sách tàn bạo và ngu dân của thực dân Pháp. Trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá, đội ngũ trí thức và những nhà hoạt động văn hoá văn nghệ của Đảng đã công khai phê phán những tư tưởng duy tâm phản động, những tư tưởng phi vô sản, khẳng định lập trường mácxít trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá. Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hoá văn nghệ, những văn kiện chỉ đạo công tác văn hoá của Đảng như Đề cương văn hoá năm 1943, Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam năm 1948 đã được thể hiện sinh động trong đời sống văn hoá tinh thần của người dân Hà Nội.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nhân dân Hà Nội bước vào thời kỳ khôi phục và bước đầu phát triển kinh tế, văn hoá. Chiều ngày 10-10-1954, hàng vạn người dân Thủ đô Hà Nội đã dự lễ chào mừng chiến thắng và chào mừng ngày Hội giải phóng Thủ đô.

Ngày 1-1-1955, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, nhân dân Thủ đô Hà Nội nhiệt liệt chúc mừng và chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ trở về Thủ đô. Trong niềm vui chiến thắng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, nhân dân Thủ đô Hà Nội đã nêu cao tinh thần thi đua yêu nước, tích cực tham gia cải tạo, khôi phục và xây dựng Thủ đô. Ngày 24-11-1957, nhân dân Hà Nội đã đi bỏ phiếu bầu cử Hội đồng nhân dân Thành phố (khóa I). Trên 97% số cử tri đã đi bỏ phiếu. Hệ thống chính quyền từ thành phố đến cơ sở được củng cố. Các thiết chế chính trị - xã hội và đoàn thể được hoàn thiện để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân Hà Nội phát huy tinh thần yêu nước xây dựng Thủ đô. Nhìn lại những chặng đường lịch sử, gắn liền với những sự kiện và những chiến công của người Hà Nội trong thời kỳ sau hoà bình lập lại đến nay, chúng ta vô cùng tự hào và biết ơn hàng triệu người con ưu tú của Hà Nội thuộc nhiều thế hệ đã hy sinh quên mình để bảo vệ và xây dựng Thủ đô. Đó là những năm tháng cải tạo và phát triển kinh tế- văn hoá - xã hội (1958-1960). Đó là thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Đó là hai lần đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965-1968; 1969-1972) để tạo nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” đi vào huyền thoại dân tộc. Đó là thời kỳ Thủ đô cùng cả nước dồn sức cho giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đó là thời kỳ đi vào xây dựng và thực hiện sự nghiệp đổi mới hiện nay (từ sau năm1975 đến nay).

(Ảnh minh họa)

Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, nhân dân Hà Nội đã và đang quyết tâm xây dựng Thủ đô ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” để xứng đáng là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Tinh thần yêu nước của người dân Hà Nội không chỉ được thể hiện trong sự nghiệp chiến đấu chống xâm lược, trong xây dựng kiến tạo cuộc sống mới mà còn được thể hiện trong việc trân trọng, bảo vệ, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá cổ truyền của dân tộc. Trong quá trình bảo vệ và xây dựng Thủ đô Hà Nội, nhân dân Hà Nội đã rất cần cù, kiên trì sáng tạo, tạo ra những giá trị văn hoá vật thể và các giá trị văn hoá phi vật thể vô cùng quý giá, trở thành tài sản văn hoá của dân tộc. Các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể này tạo thành hệ sinh thái nuôi dưỡng đời sống tinh thần của cá nhân và cộng đồng. Hàng loạt hệ thống các công trình kiến trúc, điêu khắc, các di tích văn hoá lịch sử, các danh lam thắng cảnh, hệ thống sông, hồ và cây xanh, các cổ vật quý hiếm, hệ thống thư tịch cổ v.v. là cái cốt vật chất để xây dựng nền văn hoá mới. Các giá trị văn hoá phi vật thể như hệ quan niệm các giá trị và chuẩn mực, các biểu tượng văn hoá, các phong tục tập quán, các nghi lễ và quy tắc ứng xử, các lễ hội lịch sử và văn hoá, các loại hình hoạt động văn hoá cộng đồng v.v... đều là những điểm tựa tinh thần để chúng ta tiếp nhận có chọn lọc nhằm sáng tạo các giá trị văn hoá mới.

Đặc trưng văn hoá của người Hà Nội là sự cần cù, khéo léo, tài hoa và thanh lịch. Đây là những giá trị bền vững được xây dựng và tiếp nối qua nhiều thế hệ:

  "Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

  Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An"

Không nên quan niệm rằng, vẻ đẹp thanh lịch của người Hà Nội chỉ gắn với một quá khứ xa xưa mà đây là giá trị văn hoá được tạo dựng làm nên phong cách và lối sống của người Hà Nội. Các thế hệ khác nhau dù trong chiến tranh hay trong hoà bình đều trân trọng, gìn giữ, bảo vệ và phát huy vẻ đẹp văn hoá này trong đời sống tâm hồn, tình cảm cộng đồng.

images co gai HN

Thanh là sự thanh cao, trong sáng thể hiện phẩm chất, tâm hồn, tình cảm cao đẹp. Lịch là sự hiểu biết sâu rộng, biểu hiện phẩm chất trí tuệ thông minh và đúng mực của con người. Thanh lịch là sự biểu hiện tổng hợp về tâm hồn, tình cảm, đạo đức, tác phong, trí tuệ và học vấn được thể hiện trong lối sống và hành vi ứng xử. Đối lập với thanh lịch là sự xáo rỗng, xô bồ, kệch cỡm, ồn ào, kiêu căng, xa hoa, kiểu cách “giả hiệu”. Phải chăng, trong cơ chế thị trường, mở cửa giao lưu hội nhập quốc tế, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hoá, phát triển tư duy duy lý và khoa học, người Hà Nội càng cần phải giữ gìn và phát huy sự thanh lịch vốn có của ông cha?

Không thể phủ nhận một điều là thanh lịch đã trở thành giá trị văn hoá, đặc trưng cho lối sống cao đẹp của người Hà Nội. Nó đã trở thành tiêu chuẩn cho đời sống tinh thần của mỗi người dân Hà Nội qua nhiều thời đại khác nhau.

Giữ gìn và phát huy bản sắc và bản lĩnh dân tộc để xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Thủ đô Hà Nội khi bước vào thế kỷ XXI và hướng tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, chúng ta phải kế thừa và phát huy các giá trị tinh hoa văn hoá này, đặc biệt là truyền thống yêu nước và lối sống thanh lịch, tạo lập môi trường văn hoá lành mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô ngàn năm văn hiến.

TS. Phạm Duy Đức

Trích trong cuốn "Văn hóa Thăng Long - Hà Nội: Hội tụ và tỏa sáng",

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004



1. Ban Văn hóa văn nghệ Trung ương: Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-1995, Hà Nội, 1989, tr.166.

2. Ban Văn hóa văn nghệ Trung ương: Văn hoá Việt Nam tổng hợp 1989-1995, Hà Nội, 1989, tr.174.

 

 

 

 

 

Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4

Truyền thống tốt đẹp của người Hà Nội    

                        

Hà Nội là kinh đô rất sớm của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam và từ năm 1945 là Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Văn hóa Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội không phải là nền văn hoá “bản địa khép kín” trong khuôn khổ một cộng đồng biệt lập mà nơi đây là trung tâm hội tụ tài năng, ý chí, bản sắc và bản lĩnh của mọi miền đất nước quy nhập vào, trở thành biểu tượng cho sức sống bất diệt của dân tộc trong giao lưu khu vực và quốc tế. Sức mạnh tinh thần của người Hà Nội luôn luôn được bảo lưu, kế thừa và phát triển để đáp ứng với yêu cầu của dân tộc và thời đại. Trong sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh, Hà Nội đã và đang phát huy truyền thống ngàn năm văn hiến của mình để ngày càng xứng đáng với vị trí là trung tâm đầu não của cả nước.

Giá trị tinh thần của người Hà Nội được hình thành rất sớm, gắn liền với sự hình thành lịch sử dân tộc. Theo thống kê chưa đầy đủ thì Hà Nội đã có 24 làng cổ và các di tích thuộc thời tiền sử và sơ sử. Một số lượng lớn các di vật độc đáo từ trống đồng, thạp đồng, đến các công cụ sản xuất và đồ trang sức đã phản ánh đời sống văn hoá của cư dân ở đây có từ gần 4.000 năm trước. Bên cạnh các nghề trồng lúa, săn bắn, đánh cá, dệt vải, làm đồ gốm, đúc đồng, người Hà Nội đã phát triển sớm về tư duy khoa học, tư duy nghệ thuật, tạo lập cho mình một thế giới tinh thần đa dạng và phong phú, tạo thành lối sống, nếp sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng tâm linh riêng. Trước khi nhà Lý định đô ở Hà Nội, nước ta đã có nhiều kinh đô. Đó là kinh đô Phong Châu của thời Văn Lang, kinh đô Cổ Loa của nhà nước Âu Lạc, kinh đô Mê Linh của Hai Bà Trưng, kinh đô Luy Lâu của thời Bắc thuộc, kinh đô Hoa Lư của triều đại Đinh Lê. Việc Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư đến Đại La, đổi tên là Thăng Long vào năm 1010 không chỉ phản ánh tầm cao văn hoá của triều đại nhà Lý, mà mặt khác, nó cũng thể hiện sức hấp dẫn tự thân của vùng “địa linh nhân kiệt” có khả năng “tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước”. Sức mạnh của mọi triều đại chỉ có thể tìm kiếm ở nhân dân. Người dân Hà Nội cùng với nhân dân cả nước đã phát huy sức mạnh tinh thần của mình để khẳng định quyền độc lập tự chủ của quốc gia độc lập trong suốt trường kỳ lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc.

 Giá trị văn hoá tinh thần tiêu biểu và đậm nét nhất trong truyền thống văn hoá của người dân Hà Nội là truyền thống yêu nước chống xâm lược, xây dựng và bảo vệ Thủ đô. Hào khí chống xâm lược bảo vệ sự bình yên của dải đất sông Hồng này đã được thể hiện trong huyền thoại Thánh Gióng, đời vua Hùng thứ 6. Khi giặc Ân đến cướp nước ta, ông Gióng đã được nuôi dưỡng bằng sức mạnh của toàn dân, vươn lên trở thành người anh hùng cứu nước, cứu dân. ở khu vực Hà Nội có tới 23 vị tướng đem quân theo ông Gióng đi đánh giặc. Ông là người có công cứu nước, cứu dân được nhân dân suy tôn và phong “Thánh” để bất tử trong mọi thời đại, nêu gương sáng cho nhân dân noi theo. Đến thời vua An Dương Vương xây thành Cổ Loa ở Đông Anh, câu chuyện tình Mỵ Châu - Trọng Thuỷ để lại bài học vô giá về tinh thần cảnh giác với hoạ xâm lăng. Phong trào Hai Bà Trưng khởi nghĩa đã lôi cuốn sự ủng hộ của nhiều tướng và quân sĩ. Lý Nam Đế đóng quân ở cửa sông Tô Lịch và lập đô kỳ Ô Diên ở Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng. Triệu Việt Vương đánh du kích ở đầm Dạ Trạch...- Tất cả đều để lại tấm gương sáng về lòng yêu nước của người Hà Nội.

Thời nhà Đường chiếm nước ta, đóng phủ đô hộ ở Hà Nội. Triệu Xương đắp La Thành, sau đó Cao Biền mở rộng ra. Bố Cái Đại Vương là người thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, Ba Vì đã đem một đoàn dũng sĩ đến vây đô hộ phủ. Rồi đến Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền đã liên tiếp đuổi hết thù trong giặc ngoài, dựng nghiệp lớn để khẳng định chủ quyền của nước Việt Nam độc lập.

Năm 1010, Lý Công Uẩn hạ Chiếu dời đô và chuyển về định đô ở Thăng Long, mở ra một thời kỳ phát triển mới của lịch sử Thăng Long nói riêng, lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung. Thăng Long trở thành biểu tượng cho sức mạnh tinh thần của dân tộc Việt Nam trong chiến đấu chống xâm lược và xây dựng đất nước. Người Hà Nội, dù là dân bản địa hay dân mới nhập cư từ các miền đất khác đến đều đồng tâm hiệp lực để bảo vệ biên cương của đất nước và tạo lập cuộc sống thanh bình.

Thời kỳ vàng son của chế độ phong kiến Việt Nam gắn liền với các chiến công hiển hách chống xâm lược. Lý Thường Kiệt, vốn họ Ngô, tên Tuấn ở làng An Xá, huyện Quảng Đức (Gia Lâm, Hà Nội). Ông là người tài cao, đức rộng, chí lớn, thương dân, đã lập nhiều chiến công trong trị nước, yên dân và dẹp giặc. Khi nhà Tống chuẩn bị xâm lược nước ta, lúc hội đàm với các đại thần, ông là người đầu tiên trong lịch sử dân tộc dám đề ra tư tưởng tiến công: “Ngồi yên đợi giặc sao bằng đem quân đánh trước để chặn các mũi nhọn của giặc”. Đây là cơ sở chiến lược “tiên phát chế nhân”. Ông là người nhìn xa trông rộng, phạt Bắc chinh Nam, suốt đời tận tuỵ với dân với nước. Ông được lịch sử ghi nhận như người hiến dâng cả tâm hồn, trí tuệ, sức lực và tài năng cho sự nghiệp độc lập của Tổ quốc Việt Nam ở giai đoạn đầu thời kỳ tự chủ. Theo Lê quý Đôn, tài năng quân sự kiệt xuất của Lý Thường Kiệt đã làm cho chính sử Tống phải thừa nhận. Binh pháp “đánh đâu thắng đó” của nhà Lý đã được Sái Diên Khánh nhà Tống mô phỏng và được Tống Thần Tông “cho là phải”. Bài thơ Thần của ông được lịch sử ghi nhận như bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam.

Hội nghị Diên Hồng thời Trần đi vào lịch sử như một hào khí quyết tâm tiêu diệt quân thù của người dân Thăng Long, đại diện cho hào khí chung của dân tộc Việt Nam bất khuất và kiên cường trong chống xâm lược.

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1228-1300) là một vị anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hoá, một thiên tài quân sự kiệt xuất. Nhân cách và tài năng lớn của ông đã vượt quá tầm cỡ của con người để trở thành “thánh” trong đời sống tinh thần dân tộc. Ông là người biết trọng dụng nhân tài. Các anh hùng như Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng v.v. đều từ cửa trướng của ông mà ra. Trần Quốc Tuấn đã soạn hai bộ binh thư: Binh thư yếu lượcVạn kiếp tông bí truyền thư để dạy tướng sĩ cách cầm quân đánh giặc. Ông là hiện thân của tinh thần đại nghĩa, đại nhân, đại trí, đại dũng, đại tín của dân tộc Việt Nam. Hai tháng trước khi ông mất, vua Trần Anh Tông đến thăm ông, hỏi kế sách giữ nước, ông đã để lại những lời tổng kết chính xác với mọi thời đại: Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước.

Ông được nhân dân cả nước tưởng nhớ, suy tôn là người “cha của dân tộc”, “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”; là Thánh, “Đức Thánh Trần”.

Người Hà Nội và nhân dân cả nước đều nhớ đến người thầy giáo Chu Văn An (1291-1370) - nhà sư phạm lỗi lạc cuối thời Trần. Chu Văn An người làng Quang (Thanh Liệt, Thanh Trì) đỗ Thái học sinh đời Trần. Đỗ xong về làng dạy học. Học trò của ông có nhiều người tài cao, đức trọng như Phạm Sư Mạnh. Vua Trần xuống chiếu, đưa ông ra giảng ở Quốc Tử Giám. Đến đời Trần Dụ Tông, vua quan nhiễu loạn, dân chúng cực khổ. Ông dâng Thất trảm sớ, xin chém bảy tên quan nịnh thần. Vua ra sớ rồi làm ngơ. Ông “treo ấn từ quan” về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, lấy hiệu là “Tiều ẩn” (Người đi ẩn hái củi). Phan Huy Chú đã ca ngợi ông: “học nghiệp thuần tuý, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được”[1].

Triều đại nhà Lê đã phát huy khí phách anh hùng chống ngoại xâm của dân tộc và đưa chế độ phong kiến Việt Nam đạt đến một đỉnh cao mới trong cuộc kháng chiến chống quân Minh và xây dựng quốc gia phong kiến tự chủ. Lê Lợi (1385-1433) là người anh hùng giải phóng dân tộc và người sáng lập vương triều Lê. Tư tưởng “thân dân” dựa vào nhân dân để thực hiện chiến tranh giải phóng dân tộc là một tư tưởng mới mẻ và tiến bộ của ông. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi kết thúc 20 năm thống trị của giặc Minh, khôi phục nền độc lập lâu dài cho Tổ quốc. Thăng Long được khôi phục trở lại là đế đô của đất nước. Đây là một cơ hội để Thăng Long chào đón anh tài, hào kiệt từ khắp mọi miền trở về để tạo lập đế đô. Chính sách phát triển văn hoá, giáo dục của Lê Lợi bên cạnh chính sách phục hồi và đẩy mạnh phát triển kinh tế đã tạo nên bước phát triển mới của kinh đô Thăng Long.

Nguyễn Trãi (1380 - 1442) sinh ra ở đất Thăng Long. Vì từ chối sự mua chuộc của nhà Minh nên ông đã bị cầm tù ngay ở thành Thăng Long. Ông đã thực hiện lời cha là Nguyễn Phi Khanh, quyết nuôi chí lớn để rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, giữ trọn chữ “đại hiếu”. Bình Ngô sách của ông đã giúp cho Lê Lợi đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn để phát triển lực lượng, tiêu diệt kẻ thù. Bài Bình Ngô đại cáo của ông được đánh giá là “Thiên cổ hùng văn”, là Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc, khẳng định hào khí của dân tộc trong cuộc chiến đấu chống xâm lược bảo vệ đất nước. Những tác phẩm kiệt xuất của ông như Quân trung từ mệnh tập, Quốc âm thi tập... là những tác phẩm vô giá phản ánh tầm cao và chiều sâu của tư tưởng dân tộc kết tinh ở người anh hùng dân tộc, nhà thơ, nhà văn hoá lớn của nước ta ở thế kỷ XV. Tâm hồn và sự nghiệp của ông mãi mãi là vì sao sáng như Lê Thánh Tông đã truy tặng: “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”. Nhân cách và sự nghiệp của ông luôn luôn sống trong lòng người dân Thăng Long.

Lê Thánh Tông (1442-1497) đã đưa dân tộc đạt đến một giai đoạn cường thịnh trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Theo sử gia Ngô sĩ Liên đánh giá, Lê Thánh Tông là “vua sáng lập chế độ, mở mang đất đai, bờ cõi khá rộng, văn vật tốt đẹp, thật là vua anh hùng tài lược"[2]. Ông là con người kết tinh nhiều tài năng và tinh hoa của dân tộc. Về phương diện chính trị, ông đã thay đổi hệ thống tổ chức hành chính cũ thời Lê Lợi từ 5 đạo thành 12 đạo, cải tổ cơ chế nhà nước, chú trọng sửa đổi thuế khoá, điền địa, ra chiếu khuyến nông, chiếu lập đồn điền, chiếu định quan chế v.v.. tăng cường sức mạnh quân đội. Lê Thánh Tông là người khởi xướng Bộ luật Hồng Đức - đánh dấu một bước phát triển cao của chế độ phong kiến Việt Nam. Mặt khác, ông cũng là người chăm lo giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc lên một tầm cao mới. Bên cạnh việc xây dựng hệ thống thiết chế văn hoá mới, ông cho mở mang và xây dựng lại khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Lê Thánh Tông đã sáng lập Hội Tao Đàn tập hợp những nhà văn hoá nổi tiếng đương thời mà ông là chủ soái. Ông đã phá án, giải oan và cho sưu tầm lại thơ văn Nguyễn Trãi, cho tạc bia về Nguyễn Trãi. Hàng loạt thành tựu văn hoá đạt được ở thời kỳ này như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô sĩ Liên, Hồng Đức quốc âm thi tập, Hồng Đức thiên hạ bản đồ, Thiên Nam ngữ lục và những sự kiện văn hoá tiêu biểu ở trên đã khẳng định ý chí độc lập tự cường của người dân Thăng Long nói riêng, của dân tộc ta nói chung trong bảo vệ và xây dựng đất nước.

Chính nhờ sinh sống, trưởng thành và phát triển trong một môi trường văn hoá đế đô đầy anh hùng và bất khuất cũng như đầy tài năng và sự khéo léo này mà người Thăng Long - Hà Nội đã tạo lập được cho mình một bản lĩnh và bản sắc riêng trong quá trình phát triển sau này.

Sang đến triều Nguyễn, Hà Nội không còn là kinh đô nữa nhưng nơi đây vẫn là nơi hội tụ tinh anh của dân tộc với Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Vũ Tông Phan, Bà Huyện Thanh Quan, v.v..

Ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước chống Pháp và lên án sự nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn đã xuất hiện trong nhiều tầng lớp nhân dân Hà Nội. Những con người trung nghĩa: Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Lương Ngọc Quyến v.v.. đã thức tỉnh tinh thần yêu nước chống Pháp của nhân dân. Khi Hà Nội đã thành đất nhượng địa của thực dân Pháp, phong trào yêu nước chống Pháp vẫn luôn nổi lên và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Những năm đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã tiến hành chính sách khai thác và bóc lột thuộc địa. Hầu hết các xí nghiệp và công ty lớn của Pháp đều đặt trụ sở chính ở Hà Nội. Các trung tâm thương mại xuất hiện ngày càng nhiều hơn. Tầng lớp tư sản dân tộc dần dần được hình thành ở Hà Nội. Tầng lớp tiểu tư sản ở Hà Nội cũng ngày một đông hơn. Họ là những viên chức, tiểu chủ, tiểu thương, những người làm nghề tự do, giáo viên, học sinh v.v.. Đặc biệt là sự hình thành và phát triển đội ngũ công nhân mới ở Hà Nội... báo hiệu một thời kỳ đấu tranh yêu nước kiểu mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Cuộc vận động yêu nước đầu thế kỷ XX của Phan Bội Châu với phong trào Đông Du đã được nhân dân Hà Nội hưởng ứng tích cực. Song song với phong trào Đông Du còn có phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền đứng ra thành lập ( từ tháng 3-1907 đến tháng 9-1908). Các phong trào này đã tấn công vào hệ tư tưởng phong kiến (đang bị thực dân Pháp lợi dụng), thức tỉnh lòng yêu nước, yêu dân, đi tìm con đường cải cách để giành lại độc lập dân tộc. Tuy không thành công nhưng những làn gió cải cách này đã mở đường cho những tư tưởng mới tràn vào, chuẩn bị tinh thần và tư tưởng cho phong trào đấu tranh liên tục của nhân dân Hà Nội sau này. Phong trào yêu nước lan mạnh trong công nhân đã làm xuất hiện hàng loạt cuộc biểu tình của công nhân Hà Nội chống giới chủ Pháp.

Một sự kiện có ý nghĩa bước ngoặt đối với sự phát triển tinh thần yêu nước chống xâm lược của nhân dân Hà Nội nói riêng, nhân dân cả nước nói chung đầu thế kỷ XX là sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, trước hết là vào phong trào công nhân và nông dân, chuyển hóa từ tự phát thành cuộc đấu tranh tự giác của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ này, Nguyễn ái Quốc đã chuẩn bị rất kỹ về tư tưởng và tổ chức cho phong trào vận động cách mạng Việt Nam theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Những tác phẩm nổi tiếng của Người như báo Người cùng khổ, Thanh niên, các cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Kách mệnh v.v. đã thu hút được sự quan tâm của người dân Hà Nội bất chấp sự đe doạ và khủng bố của thực dân Pháp. Chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên được thành lập năm 1926 ở
Hà Nội và các hoạt động của Hội đã tác động sâu sắc đến phong trào yêu nước theo tư tưởng vô sản. Đồng thời đây cũng là cơ sở để hình thành Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Hà Nội (tháng 3-1929) do các đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Phong Sắc v.v. thành lập. Sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3-2-1930), Đảng đã thành lập ban Chấp hành Thành uỷ lâm thời Hà Nội để lãnh đạo và tổ chức phong trào cách mạng của nhân dân Hà Nội.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của tinh thần yêu nước chống xâm lược của nhân dân Hà Nội và nhân dân cả nước. Tinh thần yêu nước này được mở rộng trong mối quan hệ chặt chẽ với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, gắn bó chặt chẽ với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang diễn ra trên thế giới.

Cách mạng Tháng Tám thành công, toàn thể nhân dân Hà Nội và đồng bào cả nước lắng nghe bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc giữa Ba Đình lịch sử. Triệu người như một, đều hướng về Trung ương Đảng và Chính phủ, hướng về Chủ tịch Hồ Chí Minh để chiến đấu đến cùng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Chín năm kháng chiến trường kỳ, người Hà Nội hòa vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc. Hàng vạn người con ưu tú của Hà Nội đã hy sinh ở khắp các chiến trường của đất nước. Tinh thần yêu nước của người dân Hà Nội không chỉ thể hiện sâu sắc ở những chiến sĩ trực tiếp cầm súng đánh giặc ngoài mặt trận mà còn thể hiện ở ngay trong sự đối mặt thường ngày của người dân với các chính sách tàn bạo và ngu dân của thực dân Pháp. Trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá, đội ngũ trí thức và những nhà hoạt động văn hoá văn nghệ của Đảng đã công khai phê phán những tư tưởng duy tâm phản động, những tư tưởng phi vô sản, khẳng định lập trường mácxít trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá. Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hoá văn nghệ, những văn kiện chỉ đạo công tác văn hoá của Đảng như Đề cương văn hoá năm 1943, Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam năm 1948 đã được thể hiện sinh động trong đời sống văn hoá tinh thần của người dân Hà Nội.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nhân dân Hà Nội bước vào thời kỳ khôi phục và bước đầu phát triển kinh tế, văn hoá. Chiều ngày 10-10-1954, hàng vạn người dân Thủ đô Hà Nội đã dự lễ chào mừng chiến thắng và chào mừng ngày Hội giải phóng Thủ đô.

Ngày 1-1-1955, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, nhân dân Thủ đô Hà Nội nhiệt liệt chúc mừng và chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ trở về Thủ đô. Trong niềm vui chiến thắng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, nhân dân Thủ đô Hà Nội đã nêu cao tinh thần thi đua yêu nước, tích cực tham gia cải tạo, khôi phục và xây dựng Thủ đô. Ngày 24-11-1957, nhân dân Hà Nội đã đi bỏ phiếu bầu cử Hội đồng nhân dân Thành phố (khóa I). Trên 97% số cử tri đã đi bỏ phiếu. Hệ thống chính quyền từ thành phố đến cơ sở được củng cố. Các thiết chế chính trị - xã hội và đoàn thể được hoàn thiện để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân Hà Nội phát huy tinh thần yêu nước xây dựng Thủ đô. Nhìn lại những chặng đường lịch sử, gắn liền với những sự kiện và những chiến công của người Hà Nội trong thời kỳ sau hoà bình lập lại đến nay, chúng ta vô cùng tự hào và biết ơn hàng triệu người con ưu tú của Hà Nội thuộc nhiều thế hệ đã hy sinh quên mình để bảo vệ và xây dựng Thủ đô. Đó là những năm tháng cải tạo và phát triển kinh tế- văn hoá - xã hội (1958-1960). Đó là thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Đó là hai lần đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965-1968; 1969-1972) để tạo nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” đi vào huyền thoại dân tộc. Đó là thời kỳ Thủ đô cùng cả nước dồn sức cho giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đó là thời kỳ đi vào xây dựng và thực hiện sự nghiệp đổi mới hiện nay (từ sau năm1975 đến nay).

 

Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, nhân dân Hà Nội đã và đang quyết tâm xây dựng Thủ đô ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” để xứng đáng là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Tinh thần yêu nước của người dân Hà Nội không chỉ được thể hiện trong sự nghiệp chiến đấu chống xâm lược, trong xây dựng kiến tạo cuộc sống mới mà còn được thể hiện trong việc trân trọng, bảo vệ, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá cổ truyền của dân tộc. Trong quá trình bảo vệ và xây dựng Thủ đô Hà Nội, nhân dân Hà Nội đã rất cần cù, kiên trì sáng tạo, tạo ra những giá trị văn hoá vật thể và các giá trị văn hoá phi vật thể vô cùng quý giá, trở thành tài sản văn hoá của dân tộc. Các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể này tạo thành hệ sinh thái nuôi dưỡng đời sống tinh thần của cá nhân và cộng đồng. Hàng loạt hệ thống các công trình kiến trúc, điêu khắc, các di tích văn hoá lịch sử, các danh lam thắng cảnh, hệ thống sông, hồ và cây xanh, các cổ vật quý hiếm, hệ thống thư tịch cổ v.v. là cái cốt vật chất để xây dựng nền văn hoá mới. Các giá trị văn hoá phi vật thể như hệ quan niệm các giá trị và chuẩn mực, các biểu tượng văn hoá, các phong tục tập quán, các nghi lễ và quy tắc ứng xử, các lễ hội lịch sử và văn hoá, các loại hình hoạt động văn hoá cộng đồng v.v... đều là những điểm tựa tinh thần để chúng ta tiếp nhận có chọn lọc nhằm sáng tạo các giá trị văn hoá mới.

Đặc trưng văn hoá của người Hà Nội là sự cần cù, khéo léo, tài hoa và thanh lịch. Đây là những giá trị bền vững được xây dựng và tiếp nối qua nhiều thế hệ:

  "Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

  Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An".

Không nên quan niệm rằng, vẻ đẹp thanh lịch của người Hà Nội chỉ gắn với một quá khứ xa xưa mà đây là giá trị văn hoá được tạo dựng làm nên phong cách và lối sống của người Hà Nội. Các thế hệ khác nhau dù trong chiến tranh hay trong hoà bình đều trân trọng, gìn giữ, bảo vệ và phát huy vẻ đẹp văn hoá này trong đời sống tâm hồn, tình cảm cộng đồng.

Thanh là sự thanh cao, trong sáng thể hiện phẩm chất, tâm hồn, tình cảm cao đẹp. Lịch là sự hiểu biết sâu rộng, biểu hiện phẩm chất trí tuệ thông minh và đúng mực của con người. Thanh lịch là sự biểu hiện tổng hợp về tâm hồn, tình cảm, đạo đức, tác phong, trí tuệ và học vấn được thể hiện trong lối sống và hành vi ứng xử. Đối lập với thanh lịch là sự xáo rỗng, xô bồ, kệch cỡm, ồn ào, kiêu căng, xa hoa, kiểu cách “giả hiệu”. Phải chăng, trong cơ chế thị trường, mở cửa giao lưu hội nhập quốc tế, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hoá, phát triển tư duy duy lý và khoa học, người Hà Nội càng cần phải giữ gìn và phát huy sự thanh lịch vốn có của ông cha?

Không thể phủ nhận một điều là thanh lịch đã trở thành giá trị văn hoá, đặc trưng cho lối sống cao đẹp của người Hà Nội. Nó đã trở thành tiêu chuẩn cho đời sống tinh thần của mỗi người dân Hà Nội qua nhiều thời đại khác nhau.

Giữ gìn và phát huy bản sắc và bản lĩnh dân tộc để xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Thủ đô Hà Nội khi bước vào thế kỷ XXI và hướng tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, chúng ta phải kế thừa và phát huy các giá trị tinh hoa văn hoá này, đặc biệt là truyền thống yêu nước và lối sống thanh lịch, tạo lập môi trường văn hoá lành mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô ngàn năm văn hiến.

 

 

TS. Phạm Duy Đức

Trích trong cuốn "Văn hóa Thăng Long - Hà Nội: Hội tụ và tỏa sáng", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004



1. Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-1995, Ban Văn hóa văn nghệ Trung ương, Hà Nội, 1989, tr.166.

1. Văn hoá Việt Nam tổng hợp 1989-1995. Ban Văn hoá văn nghệ Trung ương, Hà Nội, 1989, tr.174.