Trang chủ 60 NĂM GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ Hà Nội: Một Thủ đô, một dấu chấm hỏi*

Hà Nội: Một Thủ đô, một dấu chấm hỏi*

Đường phố Hà Nội rất yên bình. Ở đó chúng ta có thể thấy những đứa trẻ chơi đùa với những khẩu súng gỗ. Vài đôi tình nhân trẻ dạo bước tay trong tay, hoặc ngồi áp má nhau trên những chiếc ghế đá bên bờ hồ ở trung tâm thành phố. Những bông hoa tràn ngập trên những khuôn viên nhỏ trên vỉa hè. Đến trưa, một làn sóng xe đạp tràn ngập các phố. Thật khó mà tưởng tượng là cách đó 10.000 km, cỗ máy điện tử của Lầu Năm góc kêu lách cách và quyết định tư vấn có nên tiêu diệt thành phố này hay không. Hẳn nhiên là sẽ rất thú vị khi có thể xem qua thông tin và biết được những suy nghĩ của Tổng thống Johnson khi ông nghiêng về những lời khuyên đưa ra cho ông.

20120511170431 0

Vẻ nhộn nhịp trên đường phố Hà Nội.

Minh họa trong cuốn sách có tựa đề "Đông Dương sâu kín"

(L'Indochine Profonde) của tác giả Pháp J. P. Dannaud xuất bản năm 1962

Hà Nội không phải là một thành phố lạ, hay ho trong mắt người nước ngoài. Rất nhiều du khách quốc tế đến từ phương Tây hoặc từ các nước xã hội chủ nghĩa thấy thành phố này xám xịt và u tối. Hơn nữa, thành phố này vẫn là một thành phố nghèo nàn. Chính phủ chỉ có thể ổn định cái nghèo và tránh được cái đói. Những vùng nông thôn đã được cải thiện đáng kể nhưng điều này không để lại dấu ấn nhiều ở đô thị, ít nhất là vẻ bề ngoài. Gắng đi tìm một địa điểm sáng sủa hơn ở thành phố này giống như thường làm ở các thành phố khác là một điều không thể. Đây có thể chỉ là một lỗi nhỏ; lẽ ra có thể làm được, ít nhất là sơn sửa lại những ngôi nhà. Nhưng khó mà làm điều đó bây giờ. Một vài cửa hàng sang trọng trước đây sẵn sàng phục vụ tầng lớp thượng lưu đã biến mất cùng với họ. Cần phải chờ đợi, vì phần thiểu số này bao gồm người nước ngoài, công chức cấp cao và những thương nhân giàu có.

Bây giờ quan chức cấp cao lại xuất thân từ bộ phận những người nghèo. Chủ tịch nước Cộng hoà và Thủ tướng chính là tấm gương của sự nghiêm khắc. Quả thực, họ sống trong những ngôi nhà cũ kỹ của những người từng làm trong Phủ toàn quyền trước kia. Đây không phải là một sự mị dân. Chỉ đơn giản là họ tiếp tục cuộc sống của họ và cũng như của hàng ngàn cán bộ nghèo trong cuộc chiến tranh thứ nhất, và hơn nữa, điều này còn phù hợp với hoàn cảnh kinh tế hiện tại của đất nước.

Tháng 9-1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sẵn sàng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, cho đến phút cuối Người mới phát hiện ra rằng mình mặc một bộ quần áo không được phù hợp. Người vừa trở về từ chiến khu với một chiếc áo kaki và một đôi dép xăng đan được làm từ lốp ôtô. Người ta phải vội vàng ra cửa hàng mua một bộ quần áo cũng bằng kaki và một đôi dép xăng đan bằng cao su. Đó là sự sở hữu riêng duy nhất được sự đồng thuận.

Phần lớn những thương nhân giàu có, những viên chức cấp cao và nhiều người đã di cư vào Sài Gòn sau Hiệp định Genève 1954. Thực dân nước ngoài cũng làm như vậy. Những người nước ngoài có gu chơi và có tiền khi đến các nước xã hội chủ nghĩa cũng không thể trở thành một lớp khách hàng mới của các quán bar, các nhà hàng và các cửa hiệu sang trọng. Họ không thể làm gì cho sự phát triển của những biển hiệu thắp đèn nê ông; và những toà nhà lẽ ra phải mang màu sắc khác biệt thì lại giống vô vàn những toà nhà ở những thủ đô châu Á khác. Hiển nhiên là chính phủ không thể dùng ngoại tệ để mua những hàng hoá xa xỉ, ngay cả khi có những khách hàng muốn mua chúng. Vì lý do đó mà cho tới những năm gần đây, Hà Nội vẫn giữ nguyên vẻ nghèo khó và xám xịt.

Những biện pháp góp phần nâng cao một phần nhỏ đời sống của những người nông dân đã buộc chính phủ phải giảm sự phát triển của tầng lớp trung lưu thành thị. Chính sách kinh tế hướng tới ít nhất là việc giảm sự chênh lệch quá lớn giữa mức lương và sự bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn. Những chiếc xe hơi duy nhất mà chúng ta bắt gặp trên đường đều là của những cán bộ cấp cao, bộ trưởng hoặc thư ký các văn phòng, đi lại vì mục đích công việc hoặc là những chiếc xe dành riêng cho những phái đoàn nước ngoài khi đến thăm Việt Nam, xe của cơ quan Ngoại giao và Uỷ ban kiểm tra quốc tế. Giao thông giảm đi rõ, và mỗi chiếc xe đều nhận được sự chú ý đặc biệt của những cảnh sát làm nhiệm vụ tại các ngã tư. Trong những năm đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, ở trung tâm thành phố chưa có những công trình mới. Chỉ có một vài cửa hàng, cửa hiệu bán những mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống cho khách du lịch: tranh sơn mài, tượng ngà, những chiếc giỏ đan,... Những mặt hàng khác đều thiếu về chủng loại và chất lượng.

Đối với những vị khách phương Tây, đó là những khía cạnh của một thành phố gây ấn tượng đặc biệt trước tiên; họ đã được biết Hà Nội với tư cách là một thủ đô của Đông Dương cũ, với những con đường rực sáng, những quán bar không đếm xuể, những cửa hàng ngập tràn hàng hoá Pháp và những con đường đầy xe hơi và xe quân sự. Nhưng dưới con mắt người Việt Nam, bức tranh lại hoàn toàn khác. Vì hàng hoá được bày trong các cửa hàng phù hợp với túi tiền và nhu cầu của họ. Và một điều mới đó là những hàng hoá này đều sản xuất trong nước. Đó là những chiếc phích, xe đạp, vải vóc, đèn pin, bóng đèn điện, thuốc lá, diêm, xà phòng, vật dụng nhà bếp, áo mưa và giầy, dép nhựa... Tất cả những hàng hoá trên đều cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của họ và được bán với một mức giá cực kỳ thấp nếu như so sánh với tỷ giá, nhưng lại hoàn toàn có lý khi chúng ta so sánh với mức lương.

Một bước tiến nữa về mức sống tuy có hơi khó nhận diện hơn: giảm giờ làm, thêm thời gian nghỉ phép và nghỉ hưu, những hoạt động giáo dục quốc gia, sức khỏe cộng đồng, và những phúc lợi khác mà chúng ta không thể nhận thấy được dưới ánh đèn nê ông treo trước các cửa hàng.

Tôi đã nói là trên thực tế trong trung tâm thành phố không hề xây dựng gì mới cả. Nhưng ở ngoại ô thì lại khác. Ở đó, chúng ta thấy những nhà máy mới được xây dựng, làm ra những sản phẩm tiêu dùng hàng ngày. Những sản phẩm quan trọng hơn cả là những máy công cụ, máy phát điện, máy biến áp, động cơ diesel và bơm động cơ. Xa hơn nữa là những cơ sở mới: về kinh tế, tài chính, y tế, dược, cơ sở theo dõi việc sinh đẻ, dân tộc thiểu số, nông nghiệp, nhà hát và rạp chiếu bóng, v.v.. Đó phần lớn là những toà nhà khiêm tốn, chỉ từ hai đến ba tầng, nằm cách xa nhau và được bao quanh bởi những ruộng lúa. Những tòa nhà này thường ở cách thủ đô vài km, và chúng gây ấn tượng không phải bởi lối kiến trúc xây dựng mà bởi chúng thể hiện sự đầu tư cho tương lai. Có thể đây là những gì đối trọng với những hiệu ứng buồn thảm trong trung tâm thành phố.

Có vẻ như những người khách đến từ Sài Gòn là những người cuối cùng bất ngờ với Hà Nội. Chính là do cuộc sống bình dị và yên lành ở đây đối lập với cuộc sống sôi động náo nức ở Sài Gòn ngay cả khi người Mỹ chưa đặt chân đến. Không hề có tiếng ồn, không hề có tiếng còi xe quân sự hoặc cảnh sát, không có xe tăng diễu hành trên phố, không có những núi rác. Hà Nội sạch một cách thận trọng. Không có lừa đảo, không có mại dâm, không có bảo kê, không có lạm phát. Và sự biến mất của hàng loạt quán bar trong những toà nhà cao tầng như một cái thở phào đối với ngay cả những kẻ nghiện rượu nặng nhất. Rất nhiều khách nước ngoài đã phải nhìn Hà Nội với một con mắt khác sau khi nói chuyện với một du khách người Sài Gòn. Những người này không hề hiếm, sau khi có sự can thiệp của Uỷ ban kiểm tra quốc tế đóng trụ sở tại hai thành phố này.

Đối lập với vẻ bề ngoài xám xịt này, Hà Nội có sự quyến rũ riêng của mình, người Hà Nội có những niềm vui nho nhỏ và bình dị. Hồ Gươm ở giữa trung tâm thành phố. Đây là một món quà quý giá được bao bọc bởi rất nhiều cây xanh. Một ngôi đền cổ được nối với bờ hồ bằng một cây cầu gỗ. Xung quanh Bờ Hồ có rất nhiều quầy rượu, với đủ loại thức uống, có thể là nước dừa, bia rất ngon và rất rẻ và các loại nước ngọt khác. Vị trí của các tượng đài bên Bờ Hồ là chủ đề tranh cãi của những cửa hàng này. Ở trung tâm, chúng ta cũng gặp những con đường rộng hơn. Vỉa hè của những con đường nhỏ hơn bị người dân lấn chiếm, họ có những dấu hiệu cảnh báo riêng để không ai có thể chiếm chỗ. Phần lớn trên các lan can những ngôi nhà trong nội thành người ta thường trồng hoa, đôi khi là rau. Gần khách sạn của tôi còn có nhà trồng cả những cây ngô.

(Ảnh minh họa)

Một phía của Bờ Hồ là khu phố Tây do người Pháp xây dựng. Ở đây đường rất rộng và có trồng nhiều cây. Nhưng những biệt thự hiện tại đều dành cho những cơ quan ngoại giao. Ở phía khác Bờ Hồ là những dãy phố cổ của Việt Nam. Những con phố trước đây của các phường hội khác nhau, giống như ở châu Âu thời Trung cổ. Phần lớn các con phố đều mang tên gọi của một nghề thủ công. Hàng Đào là con tuyến phố nổi tiếng nhất đối với người nước ngoài. Có những con phố của những người thợ kim hoàn, thợ làm giày dép, thợ đóng tủ và áo quan, v.v.. Ngày nay, thỉnh thoảng chúng ta vẫn bắt gặp những người thợ thủ công trên những con phố này. Nhưng những con phố này càng ngày càng mất đi đặc trưng hoạt động kinh doanh chính của mình và sự quyến rũ vốn có trước kia. Điều này bắt nguồn từ việc nền công nghiệp được mở rộng, thiếu khách hàng đối với những mặt hàng xa xỉ, cũng có nguyên nhân từ việc di dân, nhưng tất nhiên không phải vì những cuộc dội bom.

Bờ hồ Trúc Bạch rất sôi động vào các ngày thứ bảy và chủ nhật. Người ta đến đây để bơi thuyền, để thưởng thức món bánh tôm nổi tiếng tại những nhà hàng ngoài trời. Ngoài ra, Hà Nội còn có nhiều hồ khác, trong đó có hồ Thống Nhất do quân đội đào. Bao quanh hồ là những bồn hoa được chăm sóc cẩn thận và rất nhiều ghế đá cho các đôi bạn trẻ. Nhưng tôi có cảm giác rằng trong chuyến đi vừa rồi, những chiếc ghế đá đó chủ yếu là chỗ ngồi của những người cao tuổi.

Quảng trường Ba Đình nằm ngay giữa khu phố Tây và Phủ toàn quyền cũ. Quảng trường này có thể sánh ngang với quảng trường Đỏ ở Mátxcơva và quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh. Tại đây, ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra Nhà nước Việt Nam mới. Ngày nay, quảng trường Ba Đình là một trong những địa danh lịch sử quan trọng nhất của Việt Nam.

Những vị khách quan tâm tới lịch sử hẳn sẽ rất hứng thú với Bảo tàng lịch sử. Bảo tàng này cho phép chúng ta gắn kết những sách lược trong cuộc chiến tranh hiện tại của người Việt Nam với tổ tiên của họ cách đây 1000 năm.

Ngô Quyền đã đẩy lùi cuộc xâm lăng của quân Nam Hán vào năm 938. Trần Hưng Đạo – danh tướng trong lịch sử Việt Nam, có công lớn trong ba lần kháng chiến chống Nguyên - Mông... Trong bảo tàng này chúng ta có thể nhìn thấy nhiều cây cọc dài hai đến ba mét. Những chiếc cọc này đã từng được đóng dưới lòng sông Bạch Đằng, ở phía bắc Hải Phòng ngày nay, thời đó là cửa ngõ xâm lược thường xuyên của ngoại bang...

Trên đường phố Hà Nội có ít xe tải, nhưng ở ngoại thành lại có rất nhiều xe. Trên phần đầu mỗi chiếc xe tải người ta làm thêm mái che bằng gỗ dán để tránh sự phản chiếu của kính xe lên máy bay địch. Các phương tiện giao thông trong đó có các xe từ Hà Nội đi các tỉnh đều được phủ ngụy trang một lớp lá cây dày. Phần cửa xe đều được sơn màu tối, phần kính đều có dán giấy để tránh văng kính vụn khi phải chịu áp lực của bom. Cửa ở trường học và bệnh viện đều được “trang trí” theo cách như vậy. Tôi không hề nói quá. Thật vậy, với tính hài hước và nghệ sĩ vốn có, người Việt Nam đã cắt những hình trang trí dán lên những ô cửa như một loại hình nghệ thuật dân gian. Đó có thể là cánh chim bồ câu hoà bình của Picasso hay một số hình những ca sĩ nổi tiếng xen giữa hàng loạt những khối hình học đơn giản.

Lững thững trên đường, chúng ta có thể nhận thấy trong đám đông cười nói vô tận có những anh bộ đội, đi hàng hai hoặc hàng ba. Tàu điện lao đi trong tiếng ồn lớn với những chiếc bu nhồi đầy gà và những thúng rau treo ngoài cửa sổ. Khi không phải đi sơ tán hay lúc có nhiều thời gian rỗi, mọi người đổ đến rạp chiếu bóng nhiều hơn. Điều này cũng gần giống như việc mọi người tập trung nơi góc phố xem bản tin có bao nhiêu máy bay địch bị hạ. Người nước ngoài luôn thường trực trong đầu câu hỏi: Không biết bao giờ thì những trái bom đầu tiên sẽ rơi xuống?

Không hề có sự căng thẳng nào. Tất cả trẻ con, người già đều được đi sơ tán. Những ai có cơ hội được gặp con mình ở những vùng quê lại nhanh nhanh chóng chóng trở lại ngay cơ quan, xí nghiệp ngày hôm sau. Nỗi lo sợ bị ném bom đe dọa cuộc sống của mọi gia đình. Tiếng máy bay và áp lực của bom là những gì người ta có thể cảm nhận rõ từ cách đó 30-40 km. Người dân nghe đài để biết số phận của họ. Vì không ai cấm nghe “Tiếng nói nước Mỹ” hay Radio Sài Gòn. “So sánh hai lời nói dối với một sự thật” được xem là khẩu ngữ chính thức. Và người ta hào hứng với cuộc tranh luận giữa “đại bàng” và “chim bồ câu”: liệu có nên phá hủy Hà Nội?...

... Tôi đã ngắm thành phố trong nhiều ngày khác nhau. Nhưng chuyến thăm đầu tiên đã để lại cho tôi những ấn tượng sâu đậm nhất. Không phải ngẫu nhiên bởi đó là giai đoạn quân đội nhân dân tiến hành tiếp quản thủ đô sau Hiệp định Genève 1954.

Ngày nay, sau khi đọc lại những gì đã viết, tôi nhận thấy rằng tài liệu này định hình rõ tình hình hiện tại, khi mà hàng nghìn người trẻ tuổi tiếp tục hoàn thành công cuộc mà cha ông họ đã bắt đầu.

Việc trao quyền lực vào năm 1954 diễn ra trên từng khu phố, từng ngôi nhà. Các đoàn quân đi bộ, họ mang những “đôi dép Bác Hồ” nổi tiếng, được làm từ lốp ô tô. Những chiếc xe của quân đội Pháp rời xa thành phố trong cùng thời điểm đó. Người dân Hà Nội hoà vào dòng những người lính, cờ, hoa trong tay.

“Người dân tràn ra những vỉa hè đông như những đoàn quân. Họ dừng lại, họ đi cùng với những anh bộ đội, số lượng không ngừng tăng lên. Họ đi sâu vào trung tâm thành phố. Dòng người, dưới sự chỉ đạo, đi lại rất trật tự... Cờ xuất hiện trên những ô cửa sổ chỉ ít phút sau khi những chiếc cờ đuôi nheo đầu tiên đi qua. Vài giờ sau đã xuất hiện những chiếc cổng chào đầy hình ảnh chim bồ câu hòa bình, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, đèn, và tất cả những gì là biểu tượng của chiến thắng, hoà bình và hạnh phúc...”.

Hôm sau là ngày Quân đội nhân dân Việt Nam chính thức vào tiếp quản thủ đô.

Mọi người đều mặc những bộ quần áo đẹp nhất của mình. Phụ nữ ở thành phố mặc quần trắng, áo lụa dài màu phấn, những chị nông dân mặc quần đen rộng và áo nâu. Những cụ già trong những bộ áo the khăn đống rất chỉnh tề. Thanh niên ăn vận gần như hoàn toàn theo phong cách châu Âu với áo sơ mi trắng và quần âu. Mọi người đều vẫy hoa và cờ, họ thả những bó hoa vào những chiếc xe đi qua. Mỗi khi đoàn quân dừng lại, những em nhỏ lại chạy lại ôm hôn những người lính.

Những chiếc xe tải, xe jeep, súng máy, pháo và bazzoka của Mỹ ở giữa dòng người,...

Sự hưng phấn bỗng nhiên như tăng lên khi có những gia đình nhận ra những người lính đang diễu hành thuộc trung đoàn Hà Nội là con em của họ. Trước đó, họ đã từng là những người công nhân, sinh viên, trí thức... mà ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp đã chiến đấu một cách anh dũng, ngoan cường. Họ đã ra đi được gần tám năm. Khi ra đi, họ chỉ với những chiếc quần áo không được lành lặn, vũ khí quá thô sơ và mang theo mình những vết thương sau hai tháng chiến đấu trên những con phố. Họ đã phải bỏ lại thành phố của mình và ra đi ngay trong đêm trước mặt người Pháp. Họ đã vượt qua sông Hồng dưới cây cầu Paul-Doumer (cầu Long Biên), cây cầu dài 2 km nối liền Hà Nội với khu ngoại ô Gia Lâm. Họ đã phải rút lui để chuẩn bị cho cuộc chiến trong tương lai.

Cha mẹ và vợ con họ rất khó để nhận ra họ, những cựu binh trong trang phục chỉnh tề, ngồi trật tự trên những chiếc xe cam nhông đầy uy lực, minh chứng rằng họ đã tham gia trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Số khác lại diễu hành, đi trật tự như những người lính chuyên nghiệp đã được tôi rèn từ những trận chiến. Nhưng điều đó đã không ngăn nổi dòng nước mắt trên má họ khi họ nhận ra những người thân mà đã tám năm không được gặp mặt, khi nghe thấy giọng của mẹ, của cha, của vợ và của đứa con gọi cha...

***

Có hàng trăm trường hợp như vậy. Đây là lúc người ta đặt câu hỏi: Liệu vợ mình có còn sống không? Nhiều người chỉ đi qua Hà Nội. Họ phải đến những vùng miền khác, để làm những nhiệm vụ khác. Tất cả, từ sĩ quan tới những người lính bình thường, đều biết rằng họ không thể nghỉ trước khi đất nước được hoàn toàn hoà bình và độc lập. Phần lớn trong số họ chỉ có đủ thời gian để ôm vợ con và thì thầm đôi câu, và những nụ cười, những giọt nước mắt trước khi họ lại ra đi. Và, như một điều kỳ diệu, họ chấp nhận điều đó với một niềm tự hào và thái độ dứt khoát. Điều này lẽ ra là không thể đối với những người đã chứng kiến những cuộc đoàn viên quá ngắn ngủi, những tình cảm sâu đậm, tình yêu của những người trong gia đình và nỗi khát khao đất nước thống nhất hoàn toàn...

Có biết bao nhiêu người đàn ông một lần nữa bỏ lại vợ con mình, người thân để tiếp tục nhiệm vụ? Những người ở lại cũng coi việc đó bình thường như những người ra đi. Vậy mà tôi chưa bao giờ nghe thấy lời phàn nàn về điều đó, có chăng chỉ là những phàn nàn của người Mỹ rằng, lẽ ra quân đội kia phải cúi mình trước họ...

... Nhưng câu hỏi đầu tiên phải đặt ra cho những cỗ máy điện tử là: “Điều gì sẽ xảy ra nếu như Hà Nội và Hải Phòng bị huỷ diệt?”. Những cỗ máy chắc chắn sẽ lúng túng trước câu hỏi này. Thậm chí người ta còn nói rằng, Mc Namara, Bộ trưởng Quốc phòng, bây giờ cũng đang lo ngại rằng giải pháp có thể thay đổi cho dù tình hình ở Nam Việt Nam có thế nào đi nữa. Những người đứng đầu miền Bắc đã chuẩn bị về mặt tinh thần cho người dân về chuyện hai thành phố này sẽ bị phá huỷ. Điều này chắc chắn đã vô hiệu hoá thứ “siêu vũ khí” mà Mc Namara từng có ý định sử dụng trong cuộc chiến tranh leo thang này.

 

Wilfred Burchett

Trích trong cuốn "Hà Nội trong con mắt người nước ngoài",

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 9-2010



* Lược trích Wilfred Burchett: Hanoi sous les boms (Hà Nội dưới làn bom), Paris, Maspero, 1967.