Trang chủ 60 NĂM GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ Hà Nội: Thành phố bên sông*

Hà Nội: Thành phố bên sông*

Hà Nội là một cái tên tuyệt vời để thêm vào các cuộc tranh luận trong các bữa tiệc. Tôi không thể cưỡng lại được việc khơi mào các cuộc tranh luận trong các chuyến trở về Mỹ. Đôi khi tôi buột miệng nói: Tôi đang đạp xe đến chỗ làm ở Hà Nội vào một ngày và... phản ứng thường là giống nhau. Câu chuyện đều ngừng lại và mọi người ngẩng đầu lên và nhướng mày. Bạn có thể thấy rõ họ đang nghĩ, Hà Nội? Hà Nội? Hà Nội đó ư? Tôi như là vừa nói mình sống ở Sao Hỏa. Họ nói họ ngạc nhiên rằng có người Mỹ đang sống ở Hà Nội. Họ hỏi liệu thành phố đã được xây dựng lại sau chiến tranh, và họ tự hỏi rằng sống ở một nơi mà người Mỹ bị căm ghét thì sẽ như thế nào. Thậm chí mấy tay biên tập viên của tôi ở tờ Los Angeles Times đã khá lịch sự khi bù lại cho tôi sự gian nan thấy rõ bằng hai tuần nghỉ ngơi, dưỡng sức hàng năm ở Băng Cốc và tìm cửa hàng sách mà có những cuốn sách viết nhiều hơn về chủ đề sự thất bại của người Pháp ở Điện Biên Phủ và về Hồ Chí Minh. Tôi thích thú với việc mình trở thành chủ đề bàn tán. Nó khiến tôi cảm giác không bình thường. Trở lại Washington, tôi đã biết mình sẽ chỉ là một cái xác không hồn, chỉ biết đến công việc và công việc, bắt tàu điện ngầm đi làm mỗi ngày và lo lắng về khoản nợ mua nhà.

ho trucbachHồ Trúc Bạch

 

 

Nhưng ở Hà Nội, tôi đã lạc vào một cuộc sống mà vượt ra khỏi sự hiểu biết giữa những người bạn và người xa lạ, và có cảm giác mình như là một con ếch ương trong một cái ao tù. Vậy là trong bốn năm dài tôi thường giữ bí mật cho riêng mình. Vâng tôi vẫn nói rằng sống ở Hà Nội không dễ. Không có trung tâm thương mại hay siêu thị nào trong cả thành phố. Những vụ tắc nghẽn giao thông hỗn loạn, sự ồn ào của những chiếc xe hai bánh sẽ khiến bạn phát điên. Nếu bạn muốn nghỉ ngơi, thì tốt hơn hết đi một trong số các chuyến bay hàng ngày đến Xingapo hay Băng Cốc. Nhưng thực sự là cuộc sống cũng không đến nỗi tệ khi không có những cửa hàng bán đến 40 loại kem đánh răng khác nhau. Những gì tôi khám phá được là một thành phố kỳ diệu, tôi đắm chìm trong nét đẹp và sự quyến rũ của nó, thủ đô cuối cùng còn sở hữu những nét lãng mạn của một thời Đông Dương đã qua. Nếu Graham Greene còn sống đến ngày nay để khám phá những góc khuất trong những phố cổ, tôi sẽ không nghi ngờ rằng Hà Nội sẽ là nơi ông ấy chỉ nghe theo con tim mình.

Tại rất nhiều thời điểm trong những tuần đầu ở Hà Nội khi mà quá khứ và hiện tại của tôi, bị chia cách bởi một thế hệ, hoà quyện vào làm một. Những gì tôi đã thấy và học được, thoạt đầu, nằm gọn trong những gì tôi đã trải qua trong chiến tranh và những gì tôi nhận thức về Hà Nội. Mọi thứ như đảo lộn. Có những buổi sáng thức dậy, tôi cảm thấy trơ trọi và nhận ra rằng tôi đang sống ở một thành phố mà tôi đã từng ủng hộ việc ném bom nó và tin rằng phá hủy nó là con đường đi tới hòa bình. Tôi âm thầm hỏi một số người Việt Nam về cuộc sống của họ trong chiến tranh và sau đó, cho đến khi tôi nhận thấy rằng họ cũng rất tò mò về tôi; họ tự hỏi điều gì đã đưa tôi đến cuộc chiến Việt Nam...

...Tôi trở lại Việt Nam năm 1997, 29 năm sau khi tôi lần đầu tiên đặt chân xuống sân bay Tân Sơn Nhất, Sài Gòn. Tại sân bay ở thời điểm đó có một tấm biển cảnh báo rằng: “Nếu bị bắn súng cối, đừng hoảng hốt và đừng chạy loạn. Hãy nằm trên mặt đất và lấy tay che đầu”. Giờ đây, trên các bức tường ở sân bay Nội Bài, Hà Nội đầy ắp các biển quảng cáo đủ mọi thứ. Một công ty nghiên cứu ở Hồng Kông đã xếp hạng Việt Nam là quốc gia an toàn nhất về kinh tế và ổn định chính trị trong số 14 nước châu Á họ đã nghiên cứu.

ha noi-trong mat ng nc ngoai

Ảnh minh họa

Cũng như lần trước, lần này tôi đến vào giữa mùa hè. Những vũng nước mưa nhỏ còn đọng lại trên đường. Tôi nhận ra như từ rất lâu mùi hương tỏa ra từ bánh gạo. Vợ tôi, Sandy, và tôi đi nhận hai chú mèo đi cùng với chúng tôi, và một vị hành khách nói nhỏ với chúng tôi: “Ở đây họ ăn cả thịt mèo đấy anh có biết không”. Nhân viên hải quan trông có vẻ uể oải. Ông ấy ngồi ở một cái bàn trống không có điện thoại hay giấy tờ và chả có vẻ gì vội vàng với việc nhập cảnh cho mấy con mèo của chúng tôi. Ông ấy muốn biết chúng tôi định làm gì với chúng. Sandy nói chúng tôi nuôi chúng và chúng là bạn của chúng tôi. Ông ấy có vẻ không hiểu. Chúng tôi thương lượng một hồi. Một giờ sau chúng tôi cũng nhận được hành lý và những chú mèo, rồi leo lên một chiếc taxi cũ. Chúng tôi đi theo con đường dẫn từ sân bay Nội Bài qua những ngôi làng đầy xe đạp và qua những cánh đồng mà ở đó những người nông dân đang ngập chân trong đất bùn. Còn 45 phút nữa đến Hà Nội, nơi chúng tôi không có văn phòng, nhà cửa, điện thoại và bạn bè. Chúng tôi cùng nhau bước vào ngưỡng cửa một cuộc sống mới.

Hàng năm, tờ tạp chí Asiaweek thường đưa ra những đánh giá, xếp hạng mức sống tại 40 thành phố hàng đầu ở châu Á. Hà Nội được xếp hạng 17, nhưng tôi nghĩ Hà Nội xứng đáng được xếp hạng cao hơn. Một trong những tiêu chí để đánh giá là số TV trên 1.000 người. Hà Nội xếp thứ hai ở châu Á về mặt này, với 765 chiếc (gấp ba lần Tokyo). Tôi không rõ sự bão hòa TV có ảnh hưởng thế nào đến chất lượng cuộc sống, nhưng nó thể hiện mức sống ở Việt Nam đã tăng lên trong những năm gần đây - phần lớn người Việt Nam ít có thú tiêu khiển nào hơn là bật TV xem bóng đá hay xem phim truyện truyền hình. Ở một tiêu chí khác của Asiaweek, tính số giường bệnh trên 1.000 người, Hà Nội xếp hạng gần cuối với tỷ lệ 1,6. Tạp chí để trống phần xếp hạng số lượng xe hơi trên mỗi km đường thành phố, có lẽ bởi những con đường chật hẹp ở Hà Nội hầu như vẫn rất ít xe hơi. Trong khi đó lại có rất nhiều xe máy được nhập từ Trung Quốc và cũng chả có cách nào thống kê được số lượng của chúng.

Giả sử Asiaweek có mục về sự đáng yêu của người dân - một tiêu chí cần thiết để đánh giá mức sống tại một thành phố thì Hà Nội chắc chắn sẽ đứng hàng đầu. Trong những lần giao tiếp đầu tiên với người Việt Nam, điều gây ấn tượng với tôi là nụ cười. Những gương mặt rạng rỡ, nụ cười tự nhiên và thanh thoát, không bị gò bó, không gượng gạo mà như xuất phát từ trái tim. Một nhà kinh doanh châu Âu nói với tôi rằng ông ấy từ chối điểm đến là Trung Quốc mà đến Việt Nam bởi theo ông ta người Trung Quốc thường khó gần và u ám. Họ lúc nào cũng nghiêm nghị. Ở Việt Nam, mỗi buổi sáng khi tôi bước chân ra cửa, thường bắt gặp những nụ cười. Nó cho ta cảm giác như được chào đón. Con người ở đây thật thân thiện. Điều đó cho thấy dường như cuộc sống thật dễ chịu. Nụ cười cũng là một điều tuyệt vời ở cuối mỗi ngày.

Sandy và tôi tìm được một căn hộ nhìn ra hồ Trúc Bạch, cái hồ nhỏ nhất trong số 11 hồ ở Hà Nội, cạnh làng Ngũ Xã. Khu vực này nằm trên một bán đảo nhỏ nhô ra giữa hồ. Từ thế kỷ XVI, những người thợ đúc đồng từ năm ngôi làng ở phía đông bắc Hà Nội bắt đầu quần tụ sinh sống tại đây, và trong suốt hơn 300 năm, những lư hương, tượng Phật, chuông đồng trong những ngôi chùa hay cung điện đã được khuôn đúc từ cái làng gần ngay trước nhà tôi. “Ngay cả những con đom đóm cũng yêu thích ngọn lửa từ các lò luyện đồng”, nhà thơ Nguyễn Huy Lượng đã viết như vậy vào năm 1801 để ca ngợi các hoạt động đúc đồng ở Ngũ Xã.

vietnam2Ảnh minh họa

Qua nhiều năm những ngõ nhỏ đã trở thành những con phố giao cắt nhau như những ô bàn cờ, và phần lớn các gia đình theo nghề đúc đồng đã chuyển sang nghề làm bạc hay sản xuất xoong, chảo nhôm, đắp tượng. Nhưng làng Ngũ Xã không bao giờ mất đi những đặc trưng Việt Nam của nó hay trở thành, ngay cả trong thời kỳ Pháp thuộc, nhà cho thuê đối với những người nước ngoài. Ngày nay, ở làng Ngũ Xã chỉ còn vài gia đình vẫn theo nghề đúc tượng Phật đồng, và những tiếng đập gõ đồng khiến tôi thêm vững tin rằng, nét xưa vẫn còn đó dù Hà Nội đã đổi thay rất nhiều...

... Cộng đồng người nước ngoài ở Hà Nội theo tôi tìm hiểu chỉ có vài ngàn người, rất ít so với một thủ đô có nhiều triệu dân. Nhưng không giống như các nước phát triển khác mà tôi đã từng sống, tôi chẳng nghe thấy nhiều lời phàn nàn từ họ. Người phương Tây sống ở Việt Nam một cách tự nguyện. Cuộc sống của họ kỳ lạ và khó đoán được, và tôi đồ rằng so với cuộc sống của họ ở New York hay Sydney có thể còn thú vị hơn. Ở Cairo và Nairobi, nơi tôi đã từng sống, những người nước ngoài sống lâu năm đã quen với những lời than vãn về sự suy tàn và thương đau của đất nước trong kỷ nguyên đã qua. “Anh nên nhìn thấy nơi này trước kia”, họ nói một cách hối tiếc. Ở Hà Nội, người nước ngoài nói về hiện tại như những ngày tốt đẹp. Họ đã gặp ở Hà Nội những khoảnh khắc tuyệt vời từ sau những năm dài đen tối bị cô lập sau chiến tranh cho đến khi thành phố “mệt mỏi” bởi sự phát triển ồ ạt, điều cũng đã lấy đi sự quyến rũ của các thành phố khác ở Đông Nam Á.

Sự thay đổi đầu tiên mà Hà Nội gây ấn tượng trong tôi là cuộc sống trở nên đơn giản hơn. Ở Mỹ, chùm chìa khóa của tôi nặng trịch với cả tá chìa từ chìa khóa cửa, hai chìa khoá xe hơi, hệ thống báo động, khóa cửa sổ, một chìa khóa xe đạp, một chìa khóa văn phòng. Còn giờ đây chỉ có hai chìa, một chìa khoá căn hộ của chúng tôi, và chìa còn lại của văn phòng. Ban đêm, tôi không phải ghi chú những gì tôi phải làm vào ngày hôm sau; và chiếc máy trả lời tự động ở văn phòng tôi không nhấp nháy với một đống tin nhắn nếu tôi rời khỏi trong vài giờ. Tôi sở hữu một chiếc xe đạp bởi không có xe hơi. Và tôi có thể an toàn đi dạo bất cứ con phố nào vào bất cứ giờ nào cả ngày lẫn đêm. Bởi người dân không được sở hữu vũ khí, còn quân đội không được lạm dụng súng, tỷ lệ tội phạm là không đáng kể, nếu so với thành phố yên bình nhất nước Mỹ. Điều đó cũng làm cuộc sống đơn giản hơn, cho tôi cảm giác bất ngờ về tự do và thoải mái.

Tôi chưa từng sống ở một đất nước cộng sản, và ở đây, tuy mọi thứ đều mới mẻ, nhưng không có gì là quá lạ lẫm. Không có binh lính trên đường phố, chỉ có vài viên cảnh sát. Chẳng ai để ý nhiều đến những khẩu hiệu màu đỏ mà người ta thường treo ngang phố, và người của ủy ban nhân dân phường tuy để mắt đến những người nước ngoài nhưng cũng chả gây phiền phức gì cho tôi.

Tượng Hồ Chí Minh - “Bác Hồ”, như người Việt Nam thường gọi - có khắp mọi nơi, trong các cửa hàng, trong nhà, ở văn phòng, và mỗi ngày có hàng ngàn người Việt Nam xếp hàng vào viếng lăng trên quảng trường Ba Đình Hà Nội, nơi Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Trong lăng họ đi thành hàng thành kính qua thi hài Bác. Họ mang theo trẻ con và không nói một câu. Rất nhiều người ngấn lệ...

... Quả là điều không tưởng khi nhìn thấy người đàn ông nhỏ bé, mảnh dẻ trong bộ đồ nâu phẳng phiu, khuôn mặt thư thái như đang ngủ lại có nhiều ảnh hưởng đến những người như chúng tôi, thế hệ đã sống trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam...

... Tôi đi về nhà một mình. Trời vẫn còn sớm, nhưng những người phụ nữ từ các vùng quê đã tụ họp ở chợ cùng những thứ hàng hoá của mình. Họ men theo lề đường với những gánh đầy cà chua, rau sống, hành và hoa. Một người phụ nữ lớn tuổi, tôi thường gặp mỗi ngày đạp xe đến chợ, bấm chuông và rao: “Bánh mì. Bánh mì nóng đây”. Sau xe bà là cậu bé bán báo nhỏ bé, tên Hùng, rao những đề mục tin trong ngày qua chiếc loa buộc sau xe. Tôi cũng gặp một người đàn bà gày gò đội nón mang theo chiếc cân mà thỉnh thoảng bà đặt xuống ven đường với hy vọng ai đó đi qua muốn kiểm tra cân nặng. Bà bảo tôi bà kiếm được 7.000 đồng mỗi ngày (khoảng 50 xu Mỹ), thời gian của bà cứ thế trôi qua.

Ở bất cứ nơi nào tôi đến, các con phố đều sống động. Không ai nhàn rỗi. Người thì may vá, người thì hàn, quai búa, sửa chữa, xây dựng, gồng gánh, bán hàng, nấu ăn... Họ thức dậy từ 5 giờ sáng, 7 giờ đi làm và hầu như không nghỉ cho đến tối mịt. Mọi người dường như đều có mục đích của mình. Bị tàn phá bởi chiến tranh, bị xâm lược, chiếm đóng, đô hộ, người Hà Nội vẫn luôn tin ở chiến thắng. Họ vừa thẹn thùng vừa kiêu hãnh. Họ có vẻ dữ dằn nhưng không lạnh lùng hay xa lạ. Có lần, vào một buổi chiều tối, tôi hỏi một người phục vụ trẻ ở quán Lịch sự rằng anh nghĩ gì về Hà Nội, anh trả lời: “Hà Nội muốn trở thành trung tâm của thế giới”.

Nhưng không có nhiều người nước ngoài nghĩ như vậy. Thực tế thì Hà Nội khá buồn tẻ, yên bình và xa các trung tâm lớn. Nhưng câu trả lời của người phục vụ đã thể hiện sự tôn kính của mọi người Việt, kể cả những người ở thành phố Hồ Chí Minh đối với thành phố bên dòng sông. Không chỉ là thủ đô, Hà Nội còn là biểu tượng đoàn kết của cả dân tộc. Nếu thành phố Hồ Chí Minh là New York, với nhịp sống sôi động và là đầu tàu kinh tế, thì Hà Nội là Boston. Hà Nội nhỏ hơn, tinh tế hơn và cũng mộc mạc hơn thành phố phương Nam. Đối với người Hà Nội, lai lịch gia đình còn quan trọng hơn việc anh kiếm được bao nhiêu tiền. Người Nam nghĩ là làm, còn người miền Bắc nghĩ và cân nhắc thêm. Những nhà buôn sống ở Sài Gòn, còn nhà thơ sống ở Hà Nội...

... Mọi người nói về Việt Nam như một con hổ đang trỗi dậy trong sự bùng nổ kinh tế ở Đông Nam Á trong những thập niên 1980 và 1990. Nhưng Hà Nội vẫn giữ lại những nét riêng. Trong khi các thủ đô khác bị phá đi rồi xây lại, Hà Nội vẫn giữ được nét cổ kính. Những con phố với những hàng cây. Khu phố cổ với những con phố nhỏ hẹp không bị ảnh hưởng bởi cuộc sống hiện đại, vẫn âm vang tiếng của những người thợ thủ công, thợ cơ khí... cần mẫn qua suốt 400 năm ở 36 khu phố mang những cái tên đặc trưng theo ngành nghề kinh doanh của họ: Hàng Đào, Hàng Bạc, Chả Cá, Hàng Giấy... Quanh Bờ Hồ - Hoàn Kiếm mỗi buổi hoàng hôn, hàng trăm người cao tuổi lại tụ tập, tập thể dục và chơi cầu lông. Đôi khi tôi cũng dừng xe đạp lại và quan sát trận đấu. Những gợn sóng vẫn lăn tăn trên mặt hồ và tôi tự hỏi khi nào rùa vàng sẽ nổi lên mặt hồ...

 

David Lamb

Trích trong cuốn "Hà Nội trong con mắt người nước ngoài",

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 9-2010

 



* Trích trong David Lamb: Vietnam: Now, A reporter returns (Việt Nam, ngày nay, một phóng viên trở lại) , Nxb. Public Affairs, New York, 2002.

David Lamb là phóng viên của hãng United Press International, có mặt tại chiến trường Việt Nam từ năm 1968 -1970. Ông trở lại Việt Nam khi Sài Gòn chuẩn bị được giải phóng và rời đi vào ngày 26-4-1975. Năm 1997 ông trở lại Việt Nam, sống và làm việc ở Hà Nội bốn năm với tư cách Chánh Văn phòng của tờ Los Angeles Times. Nhận xét về thành phố Hà Nội trong bài “Hà Nội -The soul of Vietnam” (Hà Nội, linh hồn của Việt Nam) ông viết: “Thành phố truyền thuyết này là một khoảng trống trong tâm trí khi tôi đặt chân đến vào năm 1997 để mở văn phòng đầu tiên trong thời bình tại Đông Dương cho tờ Los Angeles Times. Tôi hình dung sẽ chứng kiến những vết sẹo chiến tranh nhưng không hề có, trừ khi chúng có thể được giấu trong tim. Thay vào đó, tôi chứng kiến một thành phố lạc quan, sống động... Bởi là người Mỹ, tôi đã chuẩn bị tinh thần đối mặt với sự thù địch nhưng tôi lại được đón chào khắp nơi với những nụ cười rạng rỡ, độ lượng... Hà Nội mà tôi khám phá là một thành phố đang trong giai đoạn chuyển mình, hồi sinh. Thay vì trở thành nạn nhân của cỗ máy phát triển đang nghiền nát cá tính tại nhiều thành phố Đông Nam Á khác, Hà Nội lại đứng vững, ngát hương trong sự duyên dáng, quyến rũ, bảo vệ tất cả những gì cổ kính và đặc biệt” (báo Tuổi trẻ cuối tuần, ngày 15-5-2004).