Trang chủ Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh với vấn đề chống giặc nội xâm - suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên

Hồ Chí Minh với vấn đề chống giặc nội xâm - suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên

Cuộc đấu tranh chống giặc nội xâm suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tuy đã đạt được một số kết quả bước đầu nhưng chưa nhiều, chưa vững chắc và có chiều hướng ngày càng khó khăn, phức tạp bởi loại giặc này diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp, lúc ẩn, lúc hiện. Trước tình hình đó, những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống giặc nội xâm càng hữu ích, thiết thực trong việc chống lại 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống; 9 biểu hiện suy thoái về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã đề ra.

1. Quan điểm Hồ Chí Minh về chống giặc nội xâm

Năm 1952, nhân dịp phát động phong trào sản xuất và tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Thực hành tiết kiệm và chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu. Người cho rằng: “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình”(1). Giặc nội xâm chính là “giặc ở trong lòng”, là tham ô, lãng phí, quan liêu. Giặc nội xâm ở bên trong mỗi con người, mỗi cơ quan đoàn thể. Giặc bên ngoài dễ nhìn ra, dễ phát hiện; còn giặc ở bên trong, khó phát hiện, không dễ nhìn thấy. Vì giặc nội xâm và ngoại xâm cấu kết nhau, chúng ta không chỉ chống giặc bên ngoài, giặc ngoại xâm, mà còn phải chống giặc bên trong, giặc nội xâm. Nếu chỉ ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình.

Hồ Chí Minh đã phân tích rõ các biểu hiện của giặc nội xâm, giặc ở trong lòng. Giặc nội xâm đầu tiên là tham ô. Với cán bộ, tham ô là ăn cắp, ăn bớt của công làm của tư, đục khoét của nhân dân, tiêu ít mà khai nhiều; lợi dụng của chung, của Chính phủ làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình.

Giặc nội xâm nguy hại hơn là lãng phí. Theo Người, lãng phí thể hiện dưới nhiều dạng, như: lãng phí sức lao động, thời giờ, của công, lãng phí nhiều khi tai hại hơn nạn tham ô.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng căn nguyên của nạn tham ô, lãng phí là bệnh quan liêu. Vì những người và những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng; đối với công việc thì trông hình thức mà không xem xét khắp mọi nơi, không hiểu cặn kẽ vấn đề, chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi, đến chốn. “Nói tóm lại, vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấu suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững, kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí”(2).

Theo Hồ Chí Minh, tham ô, lãng phí, quan liêu là kẻ thù nguy hiểm. Vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó ở ngay trong các tổ chức của ta, làm hỏng công việc, tinh thần trong sạch và ý chí vượt khó của cán bộ ta. Những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của nhân dân, tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám. Tham ô, lãng phí, quan liêu vẫn còn thì cách mạng vẫn chưa hoàn toàn thành công.

Hồ Chí Minh cho rằng, có những người trong lúc đấu tranh thì hăng hái, trung thành; không sợ nguy hiểm, gian khổ, không sợ địch, nghĩa là có công với cách mạng; song đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác đấu tranh với chính mình, cho nên lại thành người có tội với cách mạng. Đáng sợ hơn là, có những người miệng thì nói phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, nhưng dễ dàng phạm vào tham ô, lãng phí, hại đến Tổ quốc, nhân dân. Theo Người, tác hại của loại giặc nội xâm này chẳng khác nào như cỏ dại đối với lúa; muốn lúa tốt thì phải nhổ cỏ cho sạch, nếu không thì dù cày bừa có kỹ, bón phân nhiều, lúa vẫn xấu vì lúa bị cỏ át đi.

Tại dự Lễ khai mạc Lớp chỉnh huấn cán bộ đảng, dân, chính các cơ quan Trung ương (ngày 6-2-1953), Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Việc đấu tranh với kẻ địch ở tiền tuyến bằng súng, bằng gươm còn dễ, nhưng việc đấu tranh với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót”(3). Kẻ định trong người, trong tinh thần cũng là giặc nội xâm, bao gồm mọi cái xấu xa nói chung, mà chủ yếu là chủ nghĩa cá nhân, là tham ô, lãng phí, quan liêu. Việc đấu tranh với kẻ địch ở tiền tuyến bằng súng, bằng gươm còn dễ, vì nó ở bên ngoài, chúng ta dễ nhìn thấy, dễ phát hiện; còn việc đấu tranh với kẻ địch trong người, trong tinh thần, trong nội bộ là một khó khăn không chỉ trong nhận diện, mà còn khó khăn trong lúc tiến hành đấu tranh, vì mình phải cắt bỏ chính bản thân mình, cũng giống như cắt bỏ cái ung nhọt, dù phải cắt bỏ nhưng vô cùng đau xót.

Trong bài nói chuyện tại buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu ngày 18-1-1949, Người nói: “Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”(4). Và sau này, khi nêu ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách người tốt, việc tốt, (6-1968), Người chỉ rõ: “Muốn giáo dục nhân dân, làm cho mọi người đều tốt cả thì cán bộ đảng viên phải tự giáo dục rèn luyện hàng ngày. Người xưa còn biết tu thân mỗi buổi tối kiểm điểm mình và dùng hai cái lọ đỗ đen, đỗ trắng để ghi việc tốt, việc xấu”(5). Như vậy, muốn làm cách mạng, muốn giáo dục nhân dân, làm cho mọi người đều tốt thì cán bộ, đảng viên trước hết phải cải tạo tính nết của mình, phải tự giáo dục rèn luyện hàng ngày.

Trong bài nói chuyện về xây dựng con người XHCN (3-1961), Người nói: “Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài, thì trước hết phải đánh thắng kẻ định bên trong là chủ nghĩa cá nhân”(6). Như vậy, muốn thắng giặc ngoại xâm, thì trước hết phải thắng giặc nội xâm; mà địch bên trong chính là chủ nghĩa cá nhân. Vì chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí… Nó trói buộc, bịt mắt những nạn nhân, khiến những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng ham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân. Hồ Chí Minh cho rằng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu.

Người cho rằng, một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không chắc chắn hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân.

Giặc nội xâm nói rộng ra là những cái ác, cái xấu ở bên trong mỗi con người. Nhưng “Mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng”(7), cái xấu và cái tốt lại không tách rời nhau, đôi khi ranh giới giữa chúng rất mong manh. “Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người họ nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”(8). Do đó, cần “Lấy gương người tốt việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”(9).

Như vậy, muốn thắng giặc nội xâm, một mặt phải tu dưỡng đạo đức cách mạng; nhưng mặt khác, phải lấy gương người tốt việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn đánh thắng giặc nội xâm, một biện pháp quan trọng là thực hiện tự phê bình: “Người ta, hàng ngày ai cũng phải rửa mặt cho sạch sẽ. Đảng viên phải coi việc tự kiểm điểm như rửa mặt. Hàng ngày mỗi đảng viên phải tự kiểm điểm mình”(10). Bên cạnh đó, cần phê bình đồng chí mình để giúp tiến bộ. Người nêu rõ: “Tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, trong tinh thần, mà không nói cho người ta sửa tức là hại người”(11). “Mục đính phê bình và tự phê bình là để học cái hay, tránh cái dở, chứ không phải để nói xấu nhau”(12). Người cho rằng, phải thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí khác để cùng nhau tiến bộ; tự phê bình và phê bình không chỉ luôn dùng mà còn khéo dùng. Bác thường đặt tự phê bình lên trước, phê bình sau. Khi tự phê bình phải thật thà, trung thực; còn khi phê bình phải có quan điểm khách quan, chân thành; để đạt mục đích là cùng nhau tiến bộ.

Theo Hồ Chí Minh, vẫn có một số ít đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình mình; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng. “Họ không biết rằng: có hoạt động thì khó mà hoàn toàn tránh khỏi sai lầm. Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa”(13). Người chỉ rõ: “Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như ta cần không khí”, “cũng như người có bệnh nếu giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh lâu ngày nặng thêm, nguy hiểm đến tính mạng”. Cho nên, “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh mẽ, chắc chắn, chân chính”(14).

Theo Hồ Chí Minh: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(15). Người căn dặn cán bộ, đảng viên, trước hết phải ăn ở làm sao cho dân phục, dân yêu, dân nghe; không được quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân; cán bộ, đảng viên phải có những phẩm chất như hòa mà không tư, cẩn thận mà không nhút nhát, vị công vong tư, nói thì phải làm, trực mà không táo bạo.

Người căn dặn Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không phải mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, cá nhân nào. Sinh trưởng trong một xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang trong mình hoặc nhiều hoặc ít vết tích xấu xa của xã hội đó về tư tưởng, về thói quen… Thói quen và những tập quán lạc hậu cũng là kẻ địch to; nó ngấm ngầm ngăn trở tiến bộ. Chúng ta lại không thể trấn áp nó, mà phải cải tạo nó một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài.

Người khẳng định: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(16). “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(17).

2. Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh trong chống giặc nội xâm hiện nay

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay” xác định: ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Hội nghị Trung ương 4 khóa XII (10-2016) đã cụ thể hóa, nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Hội nghị đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Trong đó nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường XHCN, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; thậm chí sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng.

Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Hội nghị chỉ ra rằng sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Đó là, bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân; nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm; việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa kịp thời; nhiều văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể; quản lý cán bộ, đảng viên còn lỏng lẻo; đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ; công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, chậm đổi mới, kém hiệu quả; công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi chưa thường xuyên, không nghiêm túc; chưa phát huy đầy đủ, hiệu quả vai trò của nhân dân trong việc giám sát, phản biện, góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các hình thức khác.

Để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng này, cần tập trung vào 4 nhóm: Về giáo dục chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình; về cơ chế, chính sách; về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Trong đó, phải có cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái. Rà soát, hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; công tác cán bộ, công tác kiểm tra; Phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí. Cả hệ thống chính trị phải vào cuộc, từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải tự giác, gương mẫu thực hiện Nghị quyết, nói đi đôi với làm, chỉ đạo quyết liệt với quyết tâm cao.

_____________________

(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.7, tr.362-363, 357.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.56.

(4) (15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.16, 16

(5)(7) (8) (9) (10) (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.671, 672, 672, 672. 117, 260.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.68.

(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.574.

(13) (16) (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.608, 601, 612.

(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.301.

GS, TS Nguyễn Hùng Hậu

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Theo Tạp chí Lý luận Chính trị