Trang chủ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng

Tóm tắt: Tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có quan điểm về đại đoàn kết dân tộc, là tài sản tinh thần vô cùng quý báu của toàn Đảng, toàn dân ta, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi. Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đều nhất quán quan điểm lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm trên và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng đường lối cách mạng Việt Nam trong điều kiện cụ thể, trong đó xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cả về nội dung, hình thức và nguyên tắc tổ chức.

Từ khóa: tư tưởng Hồ Chí Minh; đại đoàn kết dân tộc; sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân chủ nhân dân tới cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Trong đó, tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc được Người coi là vấn đề chiến lược, quyết định mọi thành công của cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người khởi xướng xây dựng và hết lòng chăm lo cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng theo quan điểm của Hồ Chí Minh có ba nội dung chủ yếu: (1) vị trí, vai trò của đại đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng; (2) nội dung của đại đoàn kết dân tộc; (3) hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc trong công cuộc đổi mới hiện nay nghĩa là, đại đoàn kết phải được củng cố, phát triển nhằm làm cho đất nước thoát ra khỏi đói nghèo, lạc hậu về kinh tế, khoa học, công nghệ so với các nước trong khu vực và trên thế giới, làm cho Việt Nam tự tin sánh vai với các cường quốc năm châu; khơi dậy tinh thần tự hào dân tộc, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đẩy lùi mọi nguy cơ, vượt qua mọi thách thức; phát huy được tính năng động của mỗi người, của cả cộng đồng, khắc phục những tác động của nền kinh tế thị trường để không làm phương hại đến nền văn hóa truyền thống dân tộc.

Khi đề cập vị trí, vai trò của đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh đã khẳng định, đại đoàn kết dân tộc là một chiến lược cơ bản, nhất quán, lâu dài; đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được khẳng định là vấn đề sống còn của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh cho rằng, trong thời đại mới, để đánh bại các thế lực đế quốc, thực dân nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thì chưa đủ, cách mạng muốn thành công và thành công đến nơi, phải tập hợp được tất cả những lực lượng có thể tập hợp được, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Người đã nhận định, cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX bị thất bại có một nguyên nhân sâu xa là cả nước không đoàn kết được thành một khối thống nhất. Muốn cách mạng thành công phải có lực lượng cách mạng, muốn có lực lượng cách mạng thì phải thực hiện đoàn kết. Do đó, đoàn kết trở thành vấn đề chiến lược lâu dài của cách mạng. Người viết: Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao phó1. Trong quan điểm của Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc phải được xác định là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng - lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, phải được quán triệt trong tất cả các lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách đến hoạt động thực tiễn của Đảng. Đại đoàn kết là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, đồng thời cũng là nhiệm vụ hàng đầu của mọi giai đoạn cách mạng. Nhấn mạnh vấn đề này là nhấn mạnh vai trò của thực lực cách mạng, thực lực đó chính là khối đại đoàn kết dân tộc, bởi lẽ, cách mạng muốn thành công, nếu chỉ có đường lối đúng đắn thì chưa đủ mà trên cơ sở đường lối đúng đắn, Đảng phải cụ thể hóa thành những mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp cách mạng phù hợp với từng giai đoạn lịch sử để lôi kéo, tập hợp quần chúng tạo thực lực cho cách mạng.

Với Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân. Đại đoàn kết toàn dân có nghĩa là phải tập hợp được tất cả mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung. Trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp - dân tộc để tập hợp lực lượng, không được phép bỏ sót một lực lượng nào, miễn là lực lượng đó có lòng trung thành và sẵn sàng phục vụ Tổ quốc, không là việt gian, không phản bội lại quyền lợi dân tộc của chúng ta là được. Thực hiện đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc; đồng thời phải có lòng khoan dung, độ lượng, tin vào nhân dân, tin vào con người. Truyền thống này được hình thành, củng cố và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc, trở thành giá trị bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của mỗi con người Việt Nam, được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Đó chính là cội nguồn, sức mạnh vô địch để cả dân tộc chiến đấu và chiến thắng mọi thiên tai, địch họa, làm cho đất nước trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững. Người cũng nhấn mạnh, trong mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều có những ưu, nhược điểm, mặt tốt, mặt xấu. Cho nên, vì lợi ích của cách mạng, phải có lòng khoan dung độ lượng, trân trọng phần thiện dù là nhỏ nhất ở mỗi con người mới có thể tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng. Theo Hồ Chí Minh: Trong mấy triệu người cũng có người thế này người thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn vẻ vang2.

Quan điểm đại đoàn kết dân tộc trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng

Đại hội XII, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc3. Từ đó, Đảng tiếp tục chỉ đạo tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết dân tộc.

Với sự khẳng định này, Đảng Cộng sản Việt Nam càng làm sáng rõ hơn quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, phải do quần chúng, vì quần chúng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ phong trào đấu tranh để tự giải phóng và xây dựng xã hội mới tốt đẹp, quần chúng nảy sinh nhu cầu đoàn kết và sự hợp tác. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận rõ sứ mệnh của mình là thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, lãnh đạo quần chúng, chuyển những nhu cầu khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối đại đoàn kết dân tộc; tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập của dân tộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho mỗi người. Đại đoàn kết chính là vấn đề sống còn của cách mạng Việt Nam.

Về hình thức của khối đại đoàn kết dân tộc, Người đã chỉ rõ, đại đoàn kết là để tạo nên lực lượng cách mạng, để làm cách mạng xóa bỏ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới. Do đó, đại đoàn kết dân tộc không chỉ dừng lại ở quan niệm, ở tư tưởng mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, trở thành sức mạnh vật chất, lực lượng vật chất có tổ chức và tổ chức đó chính là Mặt trận dân tộc thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mặt trận dân tộc thống nhất là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, là nơi tập hợp mọi người dân nước Việt, không chỉ ở trong nước mà còn bao gồm những người Việt Nam ở nước ngoài, dù ở bất cứ phương trời nào, nếu tấm lòng vẫn hướng về quê hương, đất nước đều được coi là thành viên của Mặt trận. Đó là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của nhân dân Việt Nam, nơi quy tụ, đoàn kết, tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ chức cá nhân yêu nước ở trong và ngoài nước cùng nhau phấn đấu vì mục tiêu chung là hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công - nông - trí, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Từ đó, Đại hội XII đã thông qua các quan điểm chỉ đạo để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân như sau:

Thứ nhất, quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động của công nhân; bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc, nhà ở, các công trình phúc lợi xã hội phục vụ cho công nhân; sửa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,… để bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân.

Thứ hai, xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và ứng dụng khoa học - công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ. Nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, mở rộng và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ cơ bản về điện, nước sạch, y tế, giáo dục, thông tin…, cải thiện chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn, thực hiện có hiệu quả, bền vững công cuộc xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp.

Thứ ba, xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu sáng tạo. Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ và tôn vinh xứng đáng những cống hiến của trí thức. Có cơ chế, chính sách đặc biệt để thu hút nhân tài của đất nước. Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện, giám định xã hội của các cơ quan nghiên cứu khoa học trong việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Thứ tư, xây dựng, phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, có trình độ quản lý, kinh doanh giỏi, có đạo đức nghề nghiệp, có trách nhiệm xã hội cao. Phát huy tiềm năng và vai trò tích cực sáng tạo của đội ngũ doanh nhân, có cơ chế, chính sách phù hợp bảo đảm quyền lợi của đội ngũ doanh nhân. Tôn vinh những doanh nhân có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước.

Thứ năm, đổi mới nội dung, phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, xây dựng đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh, ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật cho thế hệ trẻ. Có cơ chế, chính sách phù hợp tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho thế hệ trẻ học tập, nghiên cứu, lao động, giải trí, phát triển trí tuệ, kỹ năng, thể lực.

Thứ sáu, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng. Nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện luật pháp và chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện và cơ hội để phụ nữ thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của mình trong gia đình và xã hội. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và xử lý nghiêm minh theo pháp luật các hành vi bạo hành, buôn bán, xâm hại nhân phẩm phụ nữ.

Thứ bảy, Đảng và Nhà nước có cơ chế, chính sách tạo điều kiện đồng thời động viên cựu chiến binh tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống, tích cực tham gia giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm và các tệ nạn xã hội góp phần xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.

Thứ tám, quan tâm chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện để người cao tuổi hưởng thụ văn hóa, tiếp cận thông tin, sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc. Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập của người cao tuổi trong xã hội và gia đình. Tiếp tục xây dựng gia đình “ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết yêu thương nhau”; giúp đỡ người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa.

Đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Đoàn kết dân tộc không chỉ có chính sách phù hợp đối với các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội mà còn cần có những chính sách để phát huy sự bình đẳng giữa các dân tộc, dân cư ở các vùng miền trên cả nước. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể nước ta, Đại hội XII đã chỉ đạo: “Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, tây duyên hải miền Trung. Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”4.

Việt Nam hiện có 13 tôn giáo đã được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân và cấp phép hoạt động với khoảng 25 triệu tín đồ. Các tôn giáo chung sống đan xen nhưng tồn tại độc lập và hòa bình với nhau, không phụ thuộc vào nhau. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để tác động vào tình hình tôn giáo để gây mâu thuẫn, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể, Đại hội XII tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật”5.

Đối với kiều bào Việt Nam, Đảng khẳng định: “Nhà nước hoàn thiện cơ chế chính sách để hỗ trợ giúp đỡ đồng bào định cư ở nước ngoài ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, góp phần tăng cường hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước; được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng; tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; có cơ chế, chính sách thu hút đồng bào hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựng và bảo vệ đất nước”6.

Đại hội XII đã hoạch định phương hướng cụ thể để củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong tình hình hiện nay. Đại hội khẳng định tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đại đoàn kết dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước thuộc về nhân dân; khắc phục những hạn chế, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; khắc phục những hạn chế, bảo đảm tác dụng, hiệu quả thực chất hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; tạo sự đồng thuận xã hội. Tiếp tục tăng cường củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Mặt trận tổ quốc đóng vai trò nòng cốt trong tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc7.

Những nội dung chỉ đạo trên của Đại hội XII về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thể hiện sự thấm nhuần và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này càng chứng tỏ hơn nữa sức sống trường tồn mãnh liệt của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và quan điểm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc nói riêng của Người trong sự nghiệp cách mạng - mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

Thượng úy Nguyễn Thị Quỳnh

Thượng úy Trần Văn Hoan

Trường Cao đẳng An ninh nhân dân I

Chú thích:

1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.9, tr.145; t.4, tr.280-281.

3, 4, 5, 6, 7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 158, 164-165.