Trang chủ Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh Vấn đề lực lượng cách mạng trong tác phẩm Đường cách mệnh của Hồ Chí Minh

Vấn đề lực lượng cách mạng trong tác phẩm Đường cách mệnh của Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Đường cách mệnh là một trong những tác phẩm kinh điển trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời là một trong những văn kiện lý luận đầu tiên của Đảng ta, đặt nền móng cho đường lối cách mạng Việt Nam. Tác phẩm Đường cách mệnh đã giải quyết những vấn đề cơ bản của cách mạng nước ta từ mục tiêu đến lực lượng tham gia, giai cấp lãnh đạo, phương pháp, phương châm tiến hành cách mạng. 90 năm đã trôi qua, nhưng những giá trị và ý nghĩa to lớn của tác phẩm vẫn đang tiếp tục soi rọi cho công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay.

duong cach menh1472017

Từ khóa: lực lượng cách mạng, giải phóng dân tộc

Tác phẩm Đường cách mệnh tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tại lớp huấn luyện chính trị trong những năm 1925-1927. Đây là tác phẩm chứa đựng nội dung có tính chất khai phá, mở đường, là một trong những tác phẩm nổi bật nhất về lý luận cách mạng, nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về con đường cách mạng Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức trước khi có Đảng ra đời. Nội dung tác phẩm đề cập những vấn đề căn cốt, xuyên suốt con đường cách mạng của giai cấp vô sản Việt Nam, trong đó tiêu biểu và cốt lõi nhất là vấn đề xây dựng lực lượng cách mạng để tiến hành giải phóng dân tộc - vấn đề mà từ trước đến nay chưa có nhà yêu nước nào chỉ ra được hoặc nếu có thì cũng chỉ dừng ở mức độ đơn lẻ, chưa bao quát toàn diện, sâu sắc về xây dựng lực lượng cách mạng. Quan điểm và những sáng tạo của Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc trong tác phẩm Đường cách mệnh được thể hiện cụ thể như sau:

Quan điểm về xây dựng lực lượng cách mạng

Vấn đề lực lượng luôn là vấn đề quan trọng của mỗi cuộc cách mạng, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trước kia đến cách mạng xã hội chủ nghĩa ngày nay. Đối với cuộc cách mạng vô sản, ngay từ đầu, trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định giai cấp vô sản sẽ là người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản bởi giai cấp vô sản là lực lượng nòng cốt của cách mạng. Nhưng giai cấp vô sản không thể đơn độc trong cuộc chiến đấu đó mà phải có đồng minh của mình bằng cách liên minh với giai cấp nông dân.

Qua phân tích thực tế xã hội Việt Nam và nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới, đặc biệt là qua hai cuộc cách mạng Pháp và cách mạng Nga cho thấy, những cuộc cách mạng điển hình đều do quần chúng công - nông làm gốc cách mệnh. Để trả lời cho câu hỏi “Ai là những người cách mệnh?”, trong tác phẩm Đường cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Vì bị áp bức mà sinh ra cách mệnh, cho nên ai mà bị áp bức càng nặng thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết”1. Hơn nữa, “công nông là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc. Vì những cớ ấy, nên công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”2. Rõ ràng đây là một nhận định rất đúng đắn, sáng tạo, khoa học về xây dựng lực lượng để tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, xét trên cả bình diện phạm vi, quy mô, tính chất, cũng như thực tiễn đã và đang diễn ra ở Việt Nam.

Lực lượng tiến hành cách mạng là một nội dung quan trọng trong tác phẩm Đường cách mệnh, chính vì vậy khi xác định lực lượng tiến hành cách mạng, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm và phạm vi có quy mô, có tầm vóc, trên cơ sở liên minh công - nông là gốc, là lực lượng chính yếu của cách mạng. Sau này, Người tiếp tục phát triển quan điểm về lực lượng rộng lớn hơn: “cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”3; “cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình”4.

Trong việc xác định lực lượng của cách mạng, Người đã thể hiện rõ tư tưởng thống nhất biện chứng giữa dân tộc và giai cấp. Cùng với việc xác định lực lượng cách mạng là toàn thể dân tộc, toàn thể nhân dân Việt Nam, động lực đấu tranh là động lực dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định công - nông là gốc, là chủ của cách mạng, bởi họ là những người có tinh thần cách mạng triệt để nhất. Bên cạnh đó, Người cũng xác định giai cấp vô sản mà đại bộ phận là giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo. Bởi tuy cùng chịu hai tầng áp bức của chế độ thực dân nhưng do đặc điểm về giai cấp mình, giai cấp nông dân chỉ có thể giải phóng được mình khi gắn cuộc đấu tranh của mình với cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và chấp nhận sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.

Xác định đúng và tổ chức thành công lực lượng cách mạng là nét đặc sắc trong phương pháp lãnh đạo cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người cho rằng: “Cách mạng là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”. Người đặt câu hỏi: “Ai là những người cách mệnh?”5 và trả lời: “Công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công nông”. Quan điểm về “bầu bạn của công nông” sau này đã được Người làm rõ trong Chính cương vắn tắtSách lược vắn tắt rằng: Phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông (Thanh niên, Tân Việt...) để kéo họ về phe giai cấp vô sản. Cụ thể hơn: phú nông, trung nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản Việt Nam chưa rõ mặt phản cách mạng, thì phải lợi dụng, chí ít là làm cho họ trung lập, có làm được như vậy thì mới có lợi cho cách mạng, mới có cơ sở, điều kiện để thu phục đông đảo các thành phần trong xã hội tham gia cách mạng một cách rộng lớn nhất.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng cách mạng trong tác phẩm Đường cách mệnh vừa thể hiện sự vững chắc, vừa phát huy được tinh thần đoàn kết đấu tranh giành độc lập của tất cả người Việt Nam yêu nước. Quan điểm này không chỉ đúng trong cách mạng giải phóng dân tộc, mà còn trở thành nguyên tắc nhất quán khi đất nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Những sáng tạo về xây dựng lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có quá trình nghiên cứu và tìm hiểu sâu sắc học thuyết cách mạng của Mác - Lênin, qua đó, Người đã tiếp thu và vận dụng các nội dung của học thuyết này một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta, nhất là vấn đề xác định xây dựng lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc. Người nhận thấy có nhiều điều thực tế diễn ra ở Việt Nam không giống như ở các nước phương Tây. Hơn nữa, sinh hoạt và hoạt động trong phong trào công nhân Pháp, Quốc tế Cộng sản và trực tiếp nghiên cứu Cách mạng Tháng Mười Nga, Người nhận ra rằng, sự hiểu biết của các đảng cộng sản và Quốc tế Cộng sản về các nước thuộc địa còn nhiều hạn chế nên chưa xác định đúng lực lượng cách mạng phù hợp với các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam.

Từ sự xác định tính chất và mục tiêu của cuộc cách mạng, Người luôn coi trọng vấn đề tập hợp xây dựng lực lượng để tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay từ những ngày đầu, Hồ Chí Minh đã có chủ trương xác định công nông là gốc cách mạng, nhưng không hạ thấp, xem nhẹ các lực lượng khác, mà ngược lại phải biết quy tụ, đoàn kết, tập hợp các lực lượng nhỏ lẻ khác xung quanh để cùng đấu tranh. Bên cạnh việc phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo và thu phục được đại bộ phận dân cày và dựa vào dân cày nghèo để làm cách mạng, bằng chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, Người đã đưa ra một sách lược khoa học, mềm dẻo, linh hoạt để huy động sức mạnh nhân dân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Khái niệm “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện rõ hơn trong tác phẩm Đường cách mệnh và được vận dụng một cách linh hoạt, uyển chuyển trong suốt quá trình cách mạng. Sự liên minh giai cấp trong tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng là vì mục tiêu cao cả giải phóng dân tộc, chứ không phải là sự thỏa hiệp vô nguyên tắc bởi trong mối liên minh đó, Đảng xác định: “không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp”6. Đây là một sáng tạo lớn của Người về xác định lực lượng cách mạng chủ yếu ở Việt Nam.

Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các chí sĩ yêu nước mặc dù căm thù giặc rất sâu sắc, nhưng không có ai nhìn ra được vị trí, vai trò to lớn của công nhân và nông dân. Cụ Phan Bội Châu cho rằng cần tới 10 hạng người để xây dựng và tiến hành cách mạng, nhưng cụ không thấy được sức mạnh to lớn, vị trí nòng cốt của công nhân và nông dân, mà xếp họ ở hạng thứ mười. Cụ Phan Châu Trinh chỉ coi trọng lực lượng tiểu tư sản, trí thức, cho rằng đây là lực lượng nòng cốt để khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh… còn công nhân và nông dân cũng không được cụ đánh giá cao. Một số tiền bối khác tuy có tinh thần cách mạng, song lại tiến hành cách mạng một cách nóng vội, lấy cái chủ quan để áp vào cái khách quan; hoặc chỉ biết lôi kéo dân chúng tiến hành bạo động mà không biết tổ chức cho nhân dân tự chủ, chủ động đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng. Hạn chế của họ là ở chỗ không xác định đúng tính chất, mục tiêu cuộc đấu tranh của nhân dân ta, không thấy hết sự phát triển đầy biến động của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, không nhận thức đúng quy luật vận động của xã hội Việt Nam, đặc biệt là không thấy được vị trí, vai trò, sức mạnh của khối liên minh công - nông, không có phương pháp tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng khoa học, đúng đắn, do đó mà chưa thể tìm ra được một phương pháp đấu tranh hiệu quả và triệt để như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra sau này.

C. Mác, Ph. Ăngghen cho rằng, quần chúng cách mạng là công nhân, nông dân. Đến Lênin, ông đúc kết rằng, trong cách mạng vô sản Nga, quần chúng cách mạng là công nhân, nông dân và binh lính. Còn ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm quần chúng cách mạng là “cả dân chúng” không trừ một ai. Người khẳng định: Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi. Người lại tin vào sức mạnh của nông dân khi được tổ chức, được giáo dục và được giác ngộ một cách khoa học và cho rằng: Ở Việt Nam, hàng chục triệu nông dân luôn theo sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, hăng hái vươn mình đứng dậy đánh tan ách nô lệ thực dân, phong kiến. Khéo tổ chức, khéo lãnh đạo thì lực lượng ấy sẽ làm xoay chuyển được trời đất, bao nhiêu thực dân và phong kiến cũng sẽ thất bại trước lực lượng to lớn ấy. Điều đó đã được khẳng định và minh chứng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Người nhận thấy rằng quần chúng nhân dân, mặc dù có tinh thần cách mạng cao, dũng cảm, song do trình độ nhận thức còn hạn chế, thiếu người tổ chức lãnh đạo với một đường lối cách mạng đúng đắn,... nên những phong trào đấu tranh của họ không đủ sức đánh bại kẻ thù. Chính vì thế, ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến sự cần thiết phải “gieo hạt giống” của công cuộc giải phóng, phải “đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc”.

Nhận thức sâu sắc về lực lượng thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc, tiếp thu quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tiễn của các thuộc địa mà trước hết là của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm mới, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể: “Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết toàn dân, trên cơ sở liên minh công nông làm nòng cốt”. Bộ phận trung tâm trong lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc là công nhân, nông dân và khối liên minh công - nông do giai cấp công nhân lãnh đạo. Khi nghiên cứu điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn các thuộc địa, trong đó có Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến đa số là nông dân, Người nhận định: nông dân là những người chịu nhiều tầng áp bức, bị bần cùng hóa, cho nên họ luôn có ý thức phản kháng, sẵn sàng tham gia cách mạng để đấu tranh tiêu diệt kẻ thù. Do đó, cách mạng giải phóng dân tộc phải có sự tham gia của giai cấp nông dân và là sự nghiệp của toàn dân. Đây là phát hiện quan trọng của Người về vai trò, sứ mệnh và khả năng thực thi nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc của giai cấp nông dân ở các thuộc địa nói chung và giai cấp nông dân ở Việt Nam nói riêng.

Người chủ trương vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân Việt Nam, những người dân mất nước, đang phải chịu thân phận nô lệ, tham gia đấu tranh cách mạng vào Mặt trận Dân tộc thống nhất, nhằm huy động sức mạnh của toàn dân tộc vào cuộc đấu tranh giành lấy độc lập tự do. Đây là luận điểm rất mới, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc to lớn đối với phong trào cách mạng nước ta. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là một minh chứng cụ thể, khẳng định tính khoa học, đúng đắn của luận điểm này.

Vấn đề xây dựng lực lượng cách mạng trong tác phẩm Đường cách mệnh là một nội dung quan trọng, là cơ sở cốt lõi để xác định con đường cách mạng Việt Nam của Đảng ta. Nội dung này đến nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn. Đây được coi là nội dung quan điểm cơ bản nhất quyết định sự thành công của cách mạng Việt Nam trong mọi thời kỳ cách mạng, từ cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Đồng thời, đây là cơ sở để Đảng ta phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh.

Nguyễn Huy Đại

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

1, 2, 3, 4, 5. Nguyễn Ái Quốc: Đường cách mệnh, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2017, tr. 18, 19, 11, 33, 18.

6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3; tr. 32.