Trang chủ Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám

Hồ Chí Minh với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám

Trên hành trình tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay từ đầu nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn và khẳng định một cách dứt khoát rằng chỉ có con đường cách mạng vô sản mới giải phóng được triệt để các dân tộc đang bị thực dân, đế quốc nô dịch, áp bức. Chủ nghĩa Mác - Lênin đến với Nguyễn Ái Quốc và qua Người đến với nhân dân Việt Nam trước hết là “cẩm nang thần kỳ” để giải phóng dân tộc. Đưa phong trào yêu nước giải phóng dân tộc của nhân dân ta vào quỹ đạo của phong trào cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức rõ con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhưng như thế không có nghĩa là một cuộc cách mạng vô sản kiểu Cách mạng Tháng Mười sẽ nổ ra ở Việt Nam. Người cho rằng con đường, chiến lược, sách lược cách mạng của mỗi nước là tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở nước đó quyết định. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra: Cách mệnh thì có 3 thứ: tư bản cách mệnh; dân tộc cách mệnh; giai cấp cách mệnh1. Đây là sự phát triển, một đóng góp về mặt lý luận của Nguyễn Ái Quốc đối với học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Điều đặc biệt quan trọng với cách mạng Việt Nam là chính luận điểm đó là một cơ sở đặt nền móng cho việc hình thành, phát triển đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng, của nhân dân ta - khi đất nước còn bị xâm lược, đô hộ thì mục tiêu cốt tử hàng đầu là phải giành cho được độc lập tự do từ tay đế quốc và bè lũ tay sai bán nước.

Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng do Người khởi thảo và được thông qua ở hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930), Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra những vấn đề hết sức căn bản về con đường, chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam. Nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam được chỉ rõ trong Chánh cương:

“a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến.

b)Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.

c)Dựng ra Chính phủ công nông binh.

d)Tổ chức ra quân đội công nông”2.

Ở Việt Nam, theo đánh giá của Nguyễn Ái Quốc thì do bọn tư bản Pháp thâu tóm toàn bộ nền kinh tế, nên tư bản bản xứ không có thế lực gì, ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được. Chỉ có bọn địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa. Để cô lập cao độ kẻ thù xâm lược, Người không xếp toàn bộ giai cấp địa chủ và nhiệm vụ cách mạng ruộng đất thành đối tượng ngang hàng với chống đế quốc và chống bọn địa chủ tay sai ôm chân thực dân.

Những nội dung của Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng được thông qua ở hội nghị thành lập Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta, thể hiện sự sáng tạo rất lớn và rất tinh tế trong xử lý mối quan hệ giữa sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản với điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, do những điều kiện quốc tế và trong nước, trong Đảng lúc bấy giờ mà những tư duy nhạy bén, sắc sảo ở tầm cao trí tuệ, dày dạn trải nghiệm thực tiễn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chưa được nhiều cán bộ cách mạng đương thời hiểu một cách thấu đáo. Do vậy, chẳng những tư tưởng của Người không được tiếp thu, vận dụng mà còn bị một số đồng chí trong Đảng ta phê phán gay gắt, cho rằng Nguyễn Ái Quốc “đã phạm một loạt sai lầm cơ hội chủ nghĩa trong thời gian hội nghị hợp nhất mà chúng ta không thể bỏ qua”3, “đường lối chính trị của hội nghị hợp nhất và của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đều sai lầm trên nhiều phương diện”4; “đã mắc nhiều sai lầm trong Cương lĩnh mà đồng chí soạn thảo”, “lúc mới thống nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa có đường lối chính trị đúng đắn”1.

Phải hơn 10 năm sau với những thử thách khốc liệt trong thực tiễn thì những nhận thức lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc của lãnh tụ thiên tài Nguyễn Ái Quốc mới được khẳng định và tiếp tục phát triển. hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ tám (họp từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941) do Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì là mốc đánh dấu sự hoàn chỉnh về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của cách mạng Việt Nam. Dưới sự chủ trì của Người, hội nghị đã phân tích sâu sắc tình hình thế giới, trong nước và đi đến quyết định “thay đổi chiến lược”, “cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại không phải là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề phản đế và điền địa nữa, mà là một cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì “cuộc cách Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”5. hội nghị chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do của toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”3. Người kiến nghị và được hội nghị Trung ương lần thứ tám chấp nhận việc lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), ra báo Việt Nam độc lập, thảo Mười chính sách của Việt Minh, trong đó mục tiêu đầu tiên là: “Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền”6, với tinh thần tập hợp hết thảy mọi người dân Việt Nam yêu nước, chống đế quốc vào Mặt trận. Để tập trung cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tiếp tục phân hóa lực lượng giai cấp địa chủ phong kiến, thực hiện quyền lợi của quảng đại quần chúng nhân dân lao động, hội nghị nhất trí cao với đề xuất của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là tạm rút khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của địa chủ mà thực hiện chính sách tịch thu ruộng đất của đế quốc, của Việt gian bán nước chia cho dân cày nghèo. hội nghị cho rằng: ngay bây giờ nếu ta nêu khẩu hiệu đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày, như thế chẳng những ta bỏ mất một lực lượng đồng minh, một lực lượng hậu thuẫn trong cuộc cách mạng đánh đuổi Pháp - Nhật mà còn đẩy lực lượng ấy về phe địch làm thành hậu bị quân cho phe địch nữa.

Nhằm khơi dậy và phát huy cao độ mọi tiềm năng của nhân dân trong mỗi quốc gia - dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đề nghị giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ của từng nước trên bán đảo Đông Dương. Người cho rằng ở các nước trên bán đảo Đông Dương vì cùng có kẻ thù chung nên không thể một dân tộc nào tự giải phóng riêng rẽ được. Nhưng sự liên hiệp các dân tộc ở đây không nhất thiết buộc các dân tộc thành lập một quốc gia duy nhất vì các dân tộc xưa nay vẫn có tinh thần dân tộc riêng của họ, “đã nói đến vấn đề dân tộc tức là đã nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc tùy theo ý muốn của mỗi dân tộc. Nói như thế nghĩa là sau lúc đánh đuổi Pháp - Nhật, ta phải thi hành chính sách “dân tộc tự quyết” cho dân tộc Đông Dương. Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý”1. Trong tình hình kẻ thù đang đẩy mạnh việc thực hiện chính sách ly gián ba nước trên bán đảo Đông Dương, chúng xuyên tạc rằng: Đế quốc an Nam đang xâm lược Lào và Cao Miên... thì tư tưởng và sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về vấn đề “dân tộc tự quyết” một cách hết sức chính xác như vậy có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Đó là cơ sở nhận thức để hội nghị thảo luận và quyết nghị một vấn đề hết sức hệ trọng không chỉ trước mắt mà là cả của sự nghiệp đấu tranh cách mạng lâu dài đối với nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia. Thực tiễn sự phát triển của sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương trong suốt 74 năm qua (kể từ hội nghị Trung ương 8, tháng 5-1941) cũng như những biến động của tình hình thế giới trong mấy thập kỷ gần đây đã chứng minh rất rõ giá trị to lớn của tư tưởng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh về vấn đề quốc gia, dân tộc.

Tư duy của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc và những quyết định đặc biệt quan trọng của hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương mà Người là “linh hồn”, trực tiếp chuẩn bị nội dung và chủ trì hội nghị đã nhanh chóng hướng cho toàn bộ những hoạt động của phong trào cách mạng Việt Nam cũng như ở các nước trên bán đảo Đông Dương bước vào giai đoạn khẩn trương xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, chỗ đứng chân, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để khi thời cơ tới tiến hành khởi nghĩa, tổng khởi nghĩa giành cho kỳ được độc lập, tự do của mỗi quốc gia, dân tộc. Tháng 7-1942, Người đi Trung Quốc và có ý định sang Mátxcơva với cái tên mới: Hồ Chí Minh, nhằm nối lại các mối quan hệ và trình bày với các Đảng anh em về chiến lược mới của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhưng đi chưa được bao xa thì bị quân Tưởng bắt. Trong thời gian giam giữ Hồ Chí Minh, Trương Phát Khuê đã thành lập bộ máy để nắm chính quyền ở Việt Nam, một đồng minh Trung Quốc và chống đối Việt Minh mà Tiêu Văn đặt cho cái tên Việt Nam cách mệnh đồng minh hội do Nguyễn hải Thần cầm đầu. Cách mạng Việt Nam đứng trước nguy cơ mới, nguy cơ quân Tưởng Giới Thạch thay thế chủ nghĩa thực dân Pháp. Trước tình thế đầy thảm họa và nguy nan ấy, Hồ Chí Minh đã hành động với một tài năng tinh tế tuyệt vời, vừa tìm cách thoát khỏi tù đày vừa đánh thẳng vào hang ổ tổ chức phản động chống phá cách mạng nước ta ngay tại nơi sinh ra nó.

Mùa xuân năm 1943, Hồ Chí Minh trở lại Tổ quốc, trực tiếp tổ chức lực lượng cách mạng, chuẩn bị giành chính quyền. Các đội du kích của ta nhanh chóng được thiết lập và đẩy mạnh hoạt động. Cuối tháng 7-1944, Ủy ban cách

mạng vùng Cao Bằng chủ trương khởi nghĩa vũ trang ở Việt Bắc. Theo sát diễn biến chính trị trên thế giới và tình hình trong nước, Hồ Chí Minh đã kịp thời chỉ đạo dừng khởi nghĩa, cho rằng: Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới, Cao Bằng chỉ mới căn cứ vào tình hình địa phương, chứ chưa căn cứ vào tình hình chung.

Tháng 12-1944, Hồ Chí Minh ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Sau một thời gian ngắn, các đơn vị chiến đấu của Việt Minh đã được chuẩn bị sẵn sàng. Các đội du kích Việt Minh làm hạt nhân trong cả nước, loang ra như một vết dầu, tiến vào vùng núi hẹp Đình Cả, gần Thái Nguyên. Thời kỳ này lực lượng cách mạng trên cả nước cũng phát triển hết sức nhanh chóng. Thấy rõ nguy cơ, chính quyền thực dân đã tập trung lực lượng để tiến hành “tảo thanh” vùng thượng du Bắc Kỳ, dự kiến xuất quân vào ngày 12-3-1945. Nhưng chúng chưa kịp hành động thì ngày 9-3-1945 Nhật tiến hành đảo chính, mọi người Pháp có quyền hành đều bị bắt giữ và tống giam. Quân đội Nhật đã là chủ, nắm quyền ở Đông Dương nhưng chưa có một trật tự chặt chẽ và một cơ cấu tổ chức vững chắc như Pháp để đối phó với lực lượng cách mạng. Để có chủ trương thích hợp, kịp thời, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ta họp ngay đêm 9 rạng sáng ngày 10-3-1945, quyết định đẩy mạnh cuộc khởi nghĩa cục bộ, vạch ra con đường và các phương thức hành động thích hợp. Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa ta đã thành lập thêm nhiều đơn vị mới, lập Ủy ban Quân sự, Ủy ban Dân tộc giải phóng.

Các đội Tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân tiếp tục tiến về phía Nam và Hồ Chí Minh đã không quên nhắc nhở những người hăng hái cách mạng rằng hiện tại vẫn chưa đầy đủ điều kiện cho Tổng khởi nghĩa. Người chỉ ra thời cơ khởi nghĩa là lúc phát xít Nhật suy yếu, thực dân Pháp chưa kịp phục hồi và quân Đồng minh chưa vào Đông Dương. Đầu tháng 6-1945, Hồ Chí Minh quyết định thống nhất tất cả các chiến khu và 6 tỉnh mà cách mạng đã giành được quyền kiểm soát thành Khu Giải phóng và thống nhất các đội du kích lại. Ngày 10-8-1945, tuy sức khỏe chưa bình phục sau trận ốm “thập tử nhất sinh” nhưng để chớp thời cơ cách mạng, Hồ Chí Minh đã triệu tập Quốc dân Đại hội đại biểu ở Tân Trào, quyết định “giành quyền từ tay phát xít Nhật trước khi Đồng minh vào”. Người ra Lời kêu gọi tổng khởi nghĩa: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta... Chúng ta không thể chậm trễ... Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”7.

Lời kêu gọi của Hồ Chí Minh nhanh chóng lan rộng đến hà Nội, huế, Sài Gòn, và khắp các tỉnh, thành trong cả nước. Cao trào cách mạng dâng lên khắp nơi. Biểu ngữ, truyền đơn, loa phóng thanh, khẩu hiệu vang dội, quần chúng được tập hợp, giáo dục, trong khi đó các “đội xung phong” của Việt Minh chiếm đóng các công sở và tước đoạt vũ khí của “bảo an binh” Đông Dương, các tổ chức “quốc gia” bị tan rã nhanh chóng. Ngày 25-8-1945, 10 ngày sau khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng, Việt Minh làm chủ được cả nước.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, long trọng khẳng định trước toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”8.

Sự sáng tạo, kiên định đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một yếu tố có ý nghĩa rất quyết định để nhân dân ta làm nên thắng lợi vĩ đại cuộc Cách mạng Tháng Tám, tạo bước ngoặt căn bản sự phát triển đi lên của quốc gia, dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Đó là kết quả của một bản lĩnh độc lập, đầy dũng khí của tầm cao trí tuệ; một nghệ thuật ứng xử hết sức bình tĩnh, sáng suốt, khéo léo của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh để vượt qua bao khó khăn cản trở trong suốt mấy thập kỷ kể từ lúc Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Điều đó đã để lại cho cách mạng Việt Nam bài học kinh nghiệm quý giá là phải luôn bám chắc vào thực tiễn đất nước, giữ vững tính độc lập, tự chủ trong tư duy, vận dụng và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm nước ngoài một cách chủ động, sáng tạo, tránh rập khuôn máy móc, giáo điều... trong xác định đường lối, chiến lược, sách lược đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

ĐẠI TÁ, TS. NGUYỄN VĂN HỮU*

Bài viết trích trong cuốn Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin theo tư tưởng Hồ Chí Minh

do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản

* Cán bộ nghiên cứu, Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng

1.Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 284-285.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 1.

3, 4. Hà huy Tập: Hà Huy Tập - Một số tác phẩm, Nxb. Chính trị quốc gia, hà Nội, 2006, tr. 151, 266.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t. 4 , tr. 385. 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 119, 113.

6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 242.

7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 596.

8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 3.