Trang chủ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Lời kêu gọi cứu nước, cứu dân của Bác Hồ

Lời kêu gọi cứu nước, cứu dân của Bác Hồ

Lịch sử mãi mãi nhớ ghi, ngày 19-12-1946, tại nhà ông Nguyễn Văn Dương, làng Vạn Phúc, thị xã Hà Đông1, Bác Hồ đã viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Ngày 20-12-1946, Bác đã đến Đài Tiếng nói Việt Nam lúc đó đặt tại chùa Trầm (Hà Tây)2 gửi tới đồng bào, chiến sĩ cả nước lời hiệu triệu đó khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp toàn quốc bùng nổ.

Đại diện cho tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh bất khuất của dân tộc, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác đã thúc giục toàn dân ta đứng lên cứu nước: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"3. Lời hiệu triệu đó làm sống lại khí phách quật cường, ý chí chống giặc ngoại xâm để giành độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc, ta nghe trong đó như sống lại những câu nói bất hủ của Trần Quốc Tuấn: "Bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu thần đi đã"; của Trần Bình Trọng: "Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc"; của Triệu Trinh Nương: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối..."; như thấy lại Trần Quốc Toản bóp nát quả cam trong tay vì không được bàn việc đánh giặc, ta như được thúc giục bởi ý chí "Sát thát" đánh giặc của đời xưa.

Lời hiệu triệu đó như thâu tóm lại lời của nước non sông núi: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây", "Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập", đã làm sống lại tinh thần Tuyên ngôn Độc lập: "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy". Tất cả như sống lại hào khí truyền thống: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước"[1]. Tất cả là sự kết tinh ở một chân lý: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!" của dân tộc trong sự nghiệp thiêng liêng dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước.

Với dã tâm xâm lược đất nước ta một lần nữa, thực dân Pháp mỗi lúc một điên cuồng lấn tới, thì lời hiệu triệu "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" là quyết tâm sắt đá của ta giành lại quyền tự do và độc lập từ tay bọn thực dân xâm lược, nếu không chúng ta vĩnh viễn mất Tổ quốc, vĩnh viễn bị nô lệ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Dù ta cần phải hy sinh bốn triệu hay tám triệu người, mà nước ta được độc lập, dân ta được tự do, tổ tiên ta được vẻ vang, con cháu ta được hạnh phúc, cũng còn hơn chịu cúi đầu mà làm nô lệ cho thực dân Pháp muôn đời"1.

Đáp lời hịch vang dậy núi sông của Người, cả dân tộc nhất tề đứng lên cầm vũ khí chống giặc, cứu nước, người có súng dùng súng, người có gươm dùng gươm, người không có gươm, súng thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc lao vào cuộc kháng chiến với ý chí như Hịch đánh Tây của cha ông ta ngày trước: "Chúng tôi sẽ lấy lau làm cờ, chặt tre làm binh khí, nhất định không bao giờ ngừng chiến đấu chống quân cướp nước"; với niềm tin sắt đá, như Bác đã khẳng định: "Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!"2. Và niềm tin đó, quyết tâm đó được khẳng định trong những vần thơ Bác chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước năm 1947, Tết đầu tiên sau khi nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược:

"Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,

Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.

Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!

Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.

Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!

Thống nhất độc lập, nhất định thành công"[2].

Với lời hiệu triệu của non sông: Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập, dân tộc ta đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Nhà nước độc lập của nhân dân đã ra đời, cởi ách nô lệ cho đồng bào, đưa người dân từ kiếp nô lệ mất nước lên làm chủ của một nước độc lập, tự do.

Giặc Pháp trở lại xâm lăng sau khi nước nhà độc lập, với lời thề "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!", toàn dân ta ai cũng đánh giặc để làm bổn phận:

"Dân ta phải giữ nước ta,

Dân là con nước, nước là mẹ chung".

Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, Bế Văn Đàn lấy thân mình làm bệ súng, Tô Vĩnh Diện chèn lưng kéo pháo, La Văn Cầu nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay bị thương để tiếp tục tiến lên diệt giặc... Tất cả vì nghĩa lớn dân tộc, nghĩa lớn đồng bào: "Ta chết một mình ta, nhưng ta góp phần đấu tranh cho muôn người được sống". Tất cả đều quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, dân tộc ta đã tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến, với những chiến thắng oanh liệt trong những chiến dịch.

Thu đông năm 1947, thực dân Pháp âm mưu kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược bằng chiến lược "chớp nhoáng". Chúng đưa số quân viễn chinh lên 12,5 vạn tên và huy động hơn hai vạn lính tinh nhuệ nhất để thực hiện kế hoạch tiến công lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt các cơ quan đầu não kháng chiến và đại bộ phận quân chủ lực của ta. Hưởng ứng Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng: "Đập tan cuộc tiến công mùa đông của giặc Pháp", cả nước hướng về căn cứ địa Việt Bắc, nổ súng phối hợp: các đồn bốt, kho tàng địch ở Sài Gòn, Tây Ninh, Mỹ Tho, Biên Hòa, Tân An bị tập kích; Tây Nguyên đánh mạnh, lập nhiều căn cứ ở Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Nam; Quảng Ngãi, Bình Định tiến công địch đi càn. Ở đồng bằng Bắc Bộ, phong trào tổng phá tề lên mạnh dọc hai bên đường số 5. Ở căn cứ địa Việt Bắc, 3.000 giặc Pháp phải bỏ xác, hơn 3.000 tên bị thương, 270 tên bị bắt. Việt Bắc thật sự là mồ chôn giặc Pháp.

Cả nước hưởng ứng Quyết định của Trung ương Đảng và Bác Hồ (tháng 6-1950), mở Chiến dịch Biên giới nhằm mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, giải phóng một phần biên giới. Trung tuần tháng 9-1950, Bác Hồ lên đường ra mặt trận để lãnh đạo chiến dịch - các chiến trường phối hợp: ở đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Liên khu 5 và Nam Bộ đẩy mạnh diệt địch, phá tề. Thu đông năm 1950, ta diệt và bắt sống hơn 4.500 tên địch, trong đó có 3 tên quan năm. Trận ấy đã làm cho cả nước Pháp xôn xao. Các báo Pháp đã đưa tin: Đó là thất bại to nhất trong lịch sử nước Pháp.

Và cuối cùng kết thúc bằng Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ lẫy lừng chiến thắng, như trong bài Mẩu chuyện về Điện Biên Phủ của Bác Hồ với bút danh Đ.X đã viết: "Điện Biên Phủ là một thất bại đau đớn cho thực dân Pháp, càng là một thất bại nhục nhã cho bọn can thiệp Mỹ. Vì Mỹ đã định ra kế hoạch Nava, đã giúp tiền bạc và vũ khí để thực hiện kế hoạch ấy"[3]... Ta tiêu diệt và bắt sống hơn 16.000 binh sĩ Pháp... Chúng "mất 25 tiểu đoàn tinh nhuệ nhất, gần 20 tên quan năm và 1 tên thiếu tướng... Thực dân Pháp thì trách Mỹ không hết sức, không kịp thời cứu vãn. Đế quốc Mỹ thì trách Pháp hèn hạ, bất tài. Nội bộ Chính phủ Pháp lục đục, tên này đổ lỗi cho tên kia. Bại tướng Nava bị cách chức"2. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ buộc đối phương phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Theo đó, nền độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam được công nhận, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, đấu tranh để thống nhất đất nước.

Với đỉnh cao của ý chí chống giặc ngoại xâm để giành độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc là "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!", "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!", toàn dân ta đã đứng lên tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện trọn vẹn mong muốn của Bác Hồ và làm sáng ngời hiện thực của chân lý giành độc lập, tự do cho nước, cho dân.

Hôm nay, chúng ta đã vào cuộc trường chinh xây dựng đất nước của độc lập, tự do, hạnh phúc để thực hiện hành trang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân ta từ năm 1969 chuẩn bị cho: "Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới"[4].

Ta ngẩng cao đầu, lòng tràn đầy tự hào và tình cảm kính yêu Bác Hồ - Người mang lại độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Ta vững tin vào lời hiệu triệu mà Người đã dẫn dắt chúng ta đánh thắng những tên giặc ngoại xâm, thì giờ đây chúng ta sẽ lại đánh thắng "giặc nội xâm", "giặc quốc nạn", "giặc trong lòng" - loại giặc ở một bộ phận người có chức, có quyền biến chất đã, đang làm mất giá trị truyền thống của độc lập, tự do mà các thế hệ trước đã đưa lại. Lời kêu gọi cứu dân, cứu nước của Bác đã trở thành một khẩu hiệu, một châm ngôn sống, trở nên bất hủ không những chỉ trong thời điểm lịch sử đó, mà còn vượt thời gian, là hành trang dẫn dắt cho mỗi chúng ta trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế để xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam phồn vinh, ấm no, hạnh phúc.

Bài viết trích trong cuốn Đạo đức Bác Hồ tấm gương soi sáng cho muôn đời

của tác giả TS. Trần Viết Hoàn do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản



1, 2. Nay thuộc quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.534.

[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.38.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.2.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.534.

[2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.20.

[3], 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.497, 500.

[4]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.614.