Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X (8-2008) đã ra Nghị quyết số 26-NQ/TW Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó nêu rõ: "Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường"[1].

Thực hiện chủ trương trên, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ngày 28-10-2008 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó nêu rõ: Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới với nội dung chính là: xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ. Phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn phù hợp quy hoạch không gian xây dựng làng (ấp, thôn, bản), xã và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương; kết hợp giữa hỗ trợ của Nhà nước với phát huy nội lực của cộng đồng dân cư nông thôn. Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và tổ chức tốt đời sống văn hóa cơ sở. Xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất hàng hóa gồm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp, thực hiện "mỗi làng một nghề". Tiếp theo, ngày 16-4-2009, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 491/QĐ-TTg về Ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, gồm 5 nội dung, 19 tiêu chí, gồm:

 

NỘI DUNG

TIÊU CHÍ

Nội dung 1: Quy hoạch

Tiêu chí 1: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch

Nội dung 2: Hạ tầng kinh tế - xã hội

Tiêu chí 2: Giao thông

Tiêu chí 3: Thủy lợi

Tiêu chí 4: Điện

Tiêu chí 5: Trường học

Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất, văn hoá

Tiêu chí 7: Chợ nông thôn

Tiêu chí 8: Bưu điện

Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư

Nội dung 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất

Tiêu chí 10: Thu nhập

Tiêu chí 11: Hộ nghèo

Tiêu chí 12: Cơ cấu lao động

Tiêu chí 13: Hình thức tổ chức sản xuất

Nội dung 4: Văn hoá - xã hội - môi trường

Tiêu chí 14: Giáo dục

Tiêu chí 15: Y tế

Tiêu chí 16: Văn hoá

Tiêu chí 17: Môi trường

Nội dung 5: Hệ thống chính trị

Tiêu chí 18: Hệ thống tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh

Tiêu chí 19: An ninh, trật tự xã hội

 

Các xã đạt tiêu chuẩn là xã nông thôn mới phải đảm bảo đạt các yêu cầu cụ thể về từng nội dung tiêu chí ghi trong Quyết định số 491/QĐ-TTg. Cũng theo Quyết định trên, huyện nông thôn mới là huyện có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới; tỉnh nông thôn mới là tỉnh có 80% số huyện trong tỉnh đạt nông thôn mới.

Đại hội XII của Đảng xác định rõ nhiệm vụ cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, "Tập trung thực hiện hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu đến năm 2020 khoảng 40 - 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách và tiêu chí xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc thù từng vùng"[2]; "Thực hiện tốt các chính sách phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao đời sống của người dân trên địa bàn nông thôn. Tập trung làm tốt công tác nâng cao dân trí, chăm sóc sức khỏe, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh, trật tự và bảo vệ môi trường. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giữ gìn và phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam"[3].

(Trích trong sách:Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng,

Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016)

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.126.

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.283.

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.284.