Trang chủ Hồ Chí Minh với con đường giải phóng dân tộc Nhận thức về quá trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1911-1920

Nhận thức về quá trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1911-1920

Quá trình ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vấn đề rất được quan tâm. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, những bài viết của các nhà nghiên cứu đề cập đến. Trong bài viết nhỏ này chúng tôi không có ý định trình bày lại quá trình đó mà xin đi vào một góc nhỏ của vấn đề lớn đó là: Nhận thức về quá trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1911 - 1920, hay nói các khác là khẳng định sự mẫn cảm chính trị hơn người của Hồ Chí Minh trong chặng đường đầu tiên đi tìm chân lý thời đại.

1 - Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam được hình thành và được vun đắp qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Về giá trị to lớn của truyền thống đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Dân tộc có ta một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quí báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước." [1] Nhưng tiếp thu truyền thống đó ở mỗi thời đại có khác nhau, mỗi thế hệ có khác nhau, thậm chí ở mỗi con người cũng có khác nhau. Sự khác nhau đó bị chi phối bởi yếu tố thời đại và sự nhận thức về chính thời đại ấy. Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra vào lúc thực dân Pháp hoàn thành việc chinh phục nước ta (1858 - 1883) biến nước ta từ một quốc gia phong kiến độc lập trở thành xứ thuộc địa với cái tên “Đông Dương thuộc Pháp”. Người lớn lên trong lúc phong trào chống Pháp của nhân dân Việt Nam diễn ra quyết liệt sôi nổi từ Bắc đến Nam như khởi nghĩa Phan Đình Phùng, khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám, khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân, khởi nghĩa  của Nguyễn thiện Thuật. Đồng thời đây cũng là lúc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được tầng lớp sĩ phu khơi dậy và thổi nó thành ngọn lửa đấu tranh cứu nước. Cũng như những người thanh niên khác, Nguyễn Tất Thành rất khâm phục những lãnh tụ khởi nghĩa, rất kính trọng những vị quan lại có tinh thần yêu nước từ bỏ chốn quan trường để chiêu binh chống giặc, yêu mến và cảm phục những nghĩa quân vốn là những người nông dân vì nghĩa lớn mà coi thường cái chết. Anh cũng vô cùng ngưỡng mộ những ông vua dám từ bỏ ngai vàng kêu gọi toàn dân chống Pháp... có thể nói đây chính là sự tác động thứ nhất. Sự tác động này vừa bồi đắp vừa khơi dậy trong anh một tình cảm yêu nước thương dân căm thù bọn xâm lược. Nhưng với Nguyễn Tất Thành tiếp thu chủ nghĩa yêu nước không chỉ dừng lại ở những tình cảm đó, không chỉ dừng lại ở những khái niệm "yêu nước", "thương dân", "căm thù giặc" mà vượt lên trên những hạn chế ấy Nguyễn Tất Thành tiếp thu từ những bài giảng của thầy Vương Thúc Quý, của sự chỉ bảo cặn kẽ của ông ngoại là Cụ Cử Hoàng Xuân Đường, của người Cha là ông Nguyễn Sinh Sắc. Đặc biệt thông qua những buổi đàm đạo về thời thế của nhà nho Nguyễn Sinh Sắc với những người khoa cử trong vùng như Nguyễn Quý Song, Phan Bội Châu.... Nguyễn Tất Thành đã có những nhận thức mới về "yêu nước" về "thương dân" đặc biệt là làm sao để giải phóng được những hạn chế mà cả dân tộc đang không tìm thấy, không giải quyết được như “yêu nước tại sao không giữ được nước?” “Căm thù giặc sao vẫn cúi đầu làm tôi cho giặc?”. Những cuộc khởi nghĩa quật khởi thừa ý chí, “thừa sự hy sinh sao vẫn thất bại?”... Từ những nhận thức mới "về lập trường yêu nước" của những người đương thời. Dù vô cùng kính trọng, khâm phục, nhưng anh vẫn thấy được những mặt hạn chế của họ như: Phan Bội Châu muốn dựa vào Nhật để đánh Pháp khác nào "đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau"; Phan Chu Trinh muốn dựa vào Pháp để đánh đổ phong kiến Nam triều "chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thương"; kể cả người anh hùng nông dân trên núi rừng Yên Thế là Hoàng Hoa Thám "vẫn còn nặng cốt cách phong kiến"[2]. Có thể xem đây là sự tác động thứ hai. Chính sự tác động này đã khẳng định một tư duy mới, nhận thức về truyền thống yêu nước, giải quyết được mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, có đối chiếu, có so sánh để tìm ra những yếu tố mới, xu thế mới để xác định được hướng đi và bước đi sau này. Ở một nội dung khác cũng rất đáng lưu ý khi phân tích sự tác động của truyền thống yêu nước đối với Nguyễn Tất Thành, đó là sẽ xuất hiện sự bắt rễ của "Tây học" song song với "Nho học" truyền thống tạo ra những ảnh hưởng không nhỏ đối với những người yêu nước đương thời. Nguyễn Tất Thành tuy được bắt đầu bằng một nền giáo dục nho giáo nhưng đồng thời vẫn tiếp thu "tân học" một cách chủ động có ý thức bắt đầu từ người thầy nho học tiến bộ của mình là Tiến sỹ Nguyễn Quý Song. Người thầy dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp đầu tiên cho Nguyễn Tất Thành rồi sau đó đến những chương trình chính thức ở trường Tiểu học Vinh, Tiểu học Đông Ba và cuối cùng là Trường Quốc học Huế. Nguyễn Tất Thành đã thực sự tiếp xúc và tiếp thu “một nền giáo dục tân học”. Chính sự tiếp thu này đã tác động không nhỏ đến nhận thức về "yêu nước", về "thương dân" của Nguyễn Tất Thành. Những ảnh hưởng mới về thời thế, về xã hội, về giai cấp. Cảm nhận rõ hơn về thân phận mình, dân tộc mình và cả những gì đang diễn ra sôi động ở thế giới bên ngoài, mà vừa xa lạ vừa cần thiết cho công cuộc cứu nước... Như sau này Nguyễn Ái Quốc khi trả lời phỏng vấn một nhà báo quốc tế Người đã nói: "Vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên tôi được nghe những từ Pháp: Tự do- Bình đẳng - Bác ái... Thế là tôi muốn là quen với văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn náu đằng sau những từ ấy"[3]. Có thể xem đây là sự tác động thứ ba. Chính sự tác động này đã làm cho Nguyễn Tất Thành có cái nhìn hoàn toàn mới mẻ về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống và Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong thời đại mới. Sự tác động này giúp anh càng quyết tâm, càng khẳng định không thể theo "lối cũ", không thể trượt lại trên vết xe đổ của cha anh mình, dù đó là những nhà yêu nước vĩ đại của dân tộc.

Như vậy, khi ra đi tìm đường cứu nước Nguyễn Tất Thành chỉ có một thứ hành trang duy nhất là lòng yêu nước, thương dân hoặc có thể gọi là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Nhưng chủ nghĩa yêu nước ấy thông qua sự tiếp thu, thông qua sự sàng lọc thực tiễn và thông qua lăng kính của thời đại mới. Chủ nghĩa yêu nước ấy đã chứa đựng các giá trị mới, tinh thần mới, có hơi thở của thời đại mới. Bởi vậy có thể nói : Nguyễn Tất Thành tiếp thu truyền thống “yêu nước, không chỉ bằng tình cảm, bằng tinh thần, mà còn bằng ý chí của một nhà yêu nước có tầm nhìn thời đại.

2.Quyết định đi về phía trời Tây là quyết định hoàn toàn mới mẻ, ngược với truyền thống "xuất dương" của các thế hệ trước là Nhật, là Tầu, là Xiêm. Đây là sự dấn thân vào một thế giới còn rất xa lạ với nhân dân ta, một thế giới mà văn hoá học thuật hoàn toàn khác với các giá trị của Việt Nam ta nếu không muốn nói là đối lập và hoàn toàn chưa có sự giao lưu nào cả. Ngày 05/6/1911, rời bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) rời xa Tổ quốc, với tên gọi Văn Ba, Nguyễn Tất Thành xuống làm phụ bếp cho tầu buôn "Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin". Con tầu chạy 13 hải lý một giờ xuyên sang Ấn Độ Dương, biển cả mênh mông - mỗi giờ càng đưa anh xa dần Tổ quốc. Nhưng niềm hy vọng lớn lao nhen nhóm dần lên: anh xa Tổ quốc bao nhiêu thì chính anh đang làm cho dân tộc mình nhích gần với thế giới bấy nhiêu... Tầu đi qua một loạt các nước thuộc địa của Anh như Singapore, Cô-lôm-bô, Pô-xa-ít. Đến ngày 06/7/1911 đúng một tháng và một ngày, Nguyễn Tất Thành đến bến Đa-răng trong cảng Mác-xây. Đất Pháp, lần đầu tiên anh đến, lạ lẫm và ngỡ ngàng. Nhưng với chủ định từ khi lên tầu với niềm khát khao tìm hiểu : "đằng sau những từ Tự do - Bình đẳng - Bác ái" ấy là gì? Nguyễn Tất Thành đã có những nhận xét đầu tiên là: "Thì ra, người Pháp ở bên Pháp không ác như thực dân Pháp ở Việt Nam. Thì ra, bên Pháp cũng có người nghèo như bên ta"[4]. Đến Lơ Havrơ, Nguyễn Tất Thành có thể lên tầu trở về Việt Nam nếu anh muốn. Hoặc cũng có thể ở lại đây tìm một công việc gì đó cho đỡ nặng nhọc vất vả và nguy hiểm như nghề thuỷ thủ trên tầu. Nhưng không, anh chấp nhận khó khăn và nguy hiểm, anh chấp nhận con đường "tự nguyện vô sản hoá để thực hiện mục đích cao cả của đời mình, đồng thời cũng là mục đích chung của cả dân tộc là Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"?[5] Để được đi nhiều, nhìn thấy nhiều, hiểu biết nhiều, Nguyễn Tất Thành lại xin làm thuỷ thủ cho một tầu chở hàng của hãng Năm Sao chạy vòng quanh châu Phi. Từ Pháp tầu qua Địa Trung Hải, qua kênh Xuyên, Biển Đỏ đến Ấn Độ Dương rồi Đại Tây Dương. Nguyễn Tất Thành qua hầu hết các thuộc địa của Pháp ở Châu Phi, ở đâu anh cũng được chứng kiến cảnh nghèo khổ của nhân dân lao động, ở đâu anh cũng rơi nước mắt trước những người nô lệ, bị đối xử quá bất công và tàn nhẫn. Theo anh, chính những người da đen là những người bị bần cùng hoá triệt để nhất, họ bị đối xử như những con vật! chứ không phải con người. Sau này khi viết về những cảnh đời đen bạc đó anh đã bày tỏ: "Khi chép những đoạn này tôi run lên, mắt mờ lệ, nước mắt chảy xuống hoà với mực. Tôi không thể nào viết được nữa. Ôi! nước Pháp đau khổ! Đông - Tây đau khổ! Nhân loại đau khổ!"[6]. Con tầu đưa Nguyễn Tất Thành vượt Đại Tây Dương đến nước Mỹ, nơi được mệnh danh là "thế giới tự do" nhưng trong mắt anh nó không phải thế, ngay phía sau tượng thần Tự do, ở ngay lối vào cảng Niu-oóc là đầy rẫy những tội ác man rợ của CNĐQ Mỹ. Ở Brúc-klin, ở khu ổ chuột Hác-len đầy rẫy những nghèo đói, những bất công và điều anh không ngờ nhất là ngay trên đất Mỹ, chủ nghĩa đế quốc Mỹ đang phục hồi lại chế độ nô lệ. Và anh đi đến kết luận: "Tất cả bọn đế quốc đều phản động và tàn ác"[7]. Rời Mỹ, Nguyễn Tất Thành trở về Anh - một đế quốc rất "giàu có" về thuộc địa "mặt trời không bao giờ tắt trên đế quốc Anh". Một nước công nghiệp phát triển hàng đầu trong thế giới tư bản. Nhưng nước Anh cũng không phải là thiên đường cho tất cả mọi người. Nước Anh cũng không mặn mà hào phóng gì với anh cả. Để sống anh phải làm đủ nghề: cào tuyết giữa mùa đông giá lạnh, đổ than và xúc than dưới hầm tối, rồi làm thuê ở khách sạn Đray-tơn Cớơc, làm phụ bếp ở khách nổi tiếng Các-tơn ở phố Hay-ma-két, dưới sự điều khiển của người đầu bếp Pháp tài ba là ông E-xcôp-phi-e... Nước Anh, đằng sau những khu nhà trầm mặc uy nghi là một cuộc sống vất vả và lam lũ của những người nghèo, những người công nhân và những thuộc địa từ khắp thế giới. "Nước Anh không thiếu những người nghèo!" đó là điều Nguyễn Tất Thành tâm sự thật thà với người đầu bếp đáng kính E-xcôp-phi-e... Vào tuổi 25 Nguyễn Tất Thành đã trở thành người Việt nam đi xa nhất, đi nhiều nhất, tiếp nhận được những sự thật phong phú nhất ở một thế giới đang chuyển động, đang chứa đựng những mầm mống của sự bùng nổ. Từ những thực tế ấy, Nguyễn Tất Thành nhận thức được rằng: ở phương Đông hay ở phương Tây ở đâu cũng có người nghèo, những người bị bóc lột và áp bức, nhưng những người dân thuộc địa chính là những người bị bóc lột nặng nề nhất, họ bị ngược đãi nhất. Chủ nghĩa tư bản dù ở Anh, ở Pháp, hay ở Mỹ cũng đều là bọn xâm lược và bọn áp bức thống trị, tham lam và độc ác. Và Nguyễn Tất Thành đi đến một kết luận rất quan trọng là: Trên đời này chỉ có 2 giống người, đó là những kẻ đi xâm lược và những người bị áp bức. Và cũng chỉ có một thứ tình là tình hữu ái giai cấp mà thôi. Hàng ngày, ngoài những giờ làm việc vất vả, Nguyễn Tất Thành vẫn giành thời gian để học tiếng Anh và tập diễn thuyết ngoài trời. Và rất nhiều lần Anh lặng im trước tượng Kác-Mác với dòng chữ vàng bất hủ: "Các nhà triết học mới chỉ giải thích thế giới bằng những cách khác nhau, điều quan trọng là phải biến đổi nó"*. Với anh đúng là còn mới quá, lạ lẫm quá. Nhưng rõ ràng có một cái gì đó đang nhen nhóm, đang bừng sáng lên trong trái tim và khối óc của con người Việt Nam trác tuyệt này.

Như vậy, có thể nói chính sự táo bạo và dũng cảm ấy đã tạo điều kiện cho Nguyễn Tất Thành thu dần thế giới vào tầm mắt và làm phong phú dần nhận thức của mình về một cuộc cách mạng tương lai.

3 - Năm 1914, chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Đây là cuộc chiến tranh của các nước đế quốc tranh giành nhau thuộc địa. Trong thư gửi cụ Phan Chu Trinh vào tháng 8 năm 1914, Nguyễn Tất Thành viết: "Tiếng súng đã rền vang. Thây người đang phủ đất. Năm nước lớn đang đánh nhau, chín nước đã vào vòng chiến, cháu bỗng nhớ cách đây vài tháng cháu đã nói với Bác về cơn giông sấm động".[8] Lúc này ở Luân-đôn chịu ảnh hưởng của cuộc chiến, phong trào công nhân Anh hoạt động sôi nổi, các tổ chức nghiệp đoàn, công đoàn liên tục tổ chức diễn thuyết, tranh luận công khai về cuộc chiến... Nguyễn Tất Thành đã không bỏ qua cơ hội này. Với tầm mắt đại dương của anh đã giúp anh hiểu nhanh mọi sự kiện và đưa anh đến gần những quan điểm tiến bộ nhất của thời đại. Cuối năm 1917, chiến tranh thế giới vào giai đoạn quyết liệt nhất, Nguyễn Tất Thành rời Luân-đôn về Paris. Anh Thành ý thức được rằng Paris luôn là trung tâm của Châu Âu, những diễn biến chính trị sẽ dồn về Paris - quê hương của Công xã Pa-ri 1871. Hơn thế Paris lúc này đang tập trung nhiều người Việt Nam yêu nước sinh sống trong đó có những người anh rất kính trọng như Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền... và hàng vạn người Việt nam bị bắt làm bia đỡ đạn cho thực dân Pháp trong cuộc đại chiến dã man này. Ở Paris, Nguyễn Tất Thành sống chung với cụ Phan Chu Trinh và luật sư Phan Văn Trường tại số 6 phố Vi-la Đơ Gô-bờ-lanh nhưng anh không tán đồng với quan điểm của hai người này. Anh giành nhiều thời gian đi sâu sát những khu vực có đông Việt kiều, vận động cổ vũ tinh thần yêu nước, tố cáo tội ác của bọn thực dân đế quốc, dần dần mọi người yêu quí tin tưởng ở anh và anh trở thành linh hồn của "Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp". Trong một báo cáo của mật thám Pháp đã khẳng định: "Nguyễn Ái Quốc (tên của Nguyễn Tất Thành lúc trở về Pháp) nổi lên là người lãnh đạo có uy tín đối với người Việt tại Pháp, trong khi vai trò của Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường lu mờ dần"[9]. Nguyễn Ái Quốc không ngừng mở mang những hiểu biết của mình bằng việc tích cực tham gia các câu lạc bộ, tham gia diễn thuyết tranh luận tại các cuộc mít tinh, hội họp, ham mê đọc báo chí cánh tả trong đó đặc biệt là những tác phẩm của nhà văn phản chiến Hăng-ri- Bác-buýt đảng viên Đảng Xã hội Pháp, với Mác-xen Ca-sanh một nhà cách mạng nổi tiếng, với Ga-xtông Mông-mát-xô chủ bút báo "Đời sống công nhân"; với Giăng-công-ghê cháu ngoại Kác-Mác chủ nhiệm báo "Dân chúng"; Với các nhà xã hội cánh tả khác như : Mô-nét và Buốc-đơ-rông... Từ những mối quan hệ này mà Nguyễn Ái Quốc dần dần đi vào môi trường hoạt động chính trị sôi động và anh đã tìm thấy những điều quan trọng, đó là sự gần gũi giữa giai cấp vô sản Pháp với nhân dân thuộc địa; đó là ở Pháp còn có những đảng phái, những tổ chức cảm thông chia sẻ với nhân dân thuộc địa và không ủng hộ chính sách thuộc địa của chính phủ Pháp. Và điều Nguyễn Ái Quốc phấn khởi nhất là những lời tố cáo của anh về chính sách độc ác của chủ nghĩa thực dân Pháp tại Đông Dương, nỗi thống khổ của nhân dân thuộc địa... được những người bạn Pháp rất lắng nghe và chia sẻ ủng hộ. Năm 1918, Nguyễn Ái Quốc được kết nạp vào Đảng Xã hội Pháp. Anh hoà mình vào cuộc đấu tranh rầm rộ của Đảng Xã hội và của các công đoàn Pháp... và chính trong cuộc đấu tranh này Nguyễn Ái Quốc đã hiểu thế nào là xung đột lợi ích và đấu tranh giai cấp. Anh viết nhiều bài trên báo "Dân chúng", báo "Đời sống thợ thuyền", báo "Nhân đạo"... càng ngày anh càng thấy được thứ vũ khí lợi hại ấy là ngòi bút. Anh hăng say viết, và cung cấp tư liệu cho những nhà báo tiến bộ viết. Những bài báo chính luận của Nguyễn Ái Quốc như "Tâm địa thực dân"; "Bình đẳng"; "Vực thẳm thuộc địa"; "Hành hình kiểu Lyn-xơ"; "Một phương diện ít người biết đến của nền văn minh Mỹ"; "Công cuộc khai hoá giết người"... đã làm xúc động cả thế giới, gây được tiếng vang lớn đối với công luận Pháp và đặc biệt là đối với Đảng Xã hội Pháp. Năm 1919, chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, các nước thắng trận họp nhau tại Vécxay Nguyễn Ái Quốc nhận thấy đây là thời cơ tốt để quốc tế hoá vấn đề Việt Nam và Đông Dương. Ký tên vào "Bản yêu sách của nhân dân An Nam" Nguyễn Ái Quốc không hề ảo tưởng vào "lòng tốt" của chủ nghĩa đế quốc, nhưng ít ra cũng để thế giới quan tâm đến nhân dân các nước thuộc địa, chú ý đến một xứ sở là Việt Nam, nhân dân yêu cầu được độc lập, đang đấu tranh vì hoà bình và tự do cho chính bản thân họ. Liền sau đó, Nguyễn Ái Quốc bỏ toàn bộ số tiền tích cóp được để in 6.000 yêu sách gửi tới các báo chí, gửi đến các Hội nghị chuyển cho các chính khách... Bản yêu sách đó gây được tiếng vang lớn, làm cho việt kiều ở Pháp vui mừng và đã vượt đại dương theo về từng nước. Chính điều đó càng làm cho bọn thực dân lồng lộn. Với những thắng lợi ban đầu, Nguyến Ái Quốc càng hăng hái tham gia các hoạt động chính trị khác. Anh tích cực có mặt tại các buổi sinh hoạt của câu lạc bộ Phô-bua, nơi tập trung rất nhiều các nhà chính trị, các nhà văn hoá và nghệ thuật. Rồi nhờ Pôn Vang-ăng Cu-tuya-riê anh xin được thẻ đọc thường xuyên tại Thư viện Quốc gia Paris - kho tàng tri thức mở cửa cho anh. Có thể đây là những ngày tháng Nguyễn Ái Quốc được mở rộng tầm nhìn nhất, thu nhận được nhiều tri thức nhất, giải quyết được nhiều băn khoăn, thắc mắc nhất. Như Pôn Vang-ăng Cu-tuya-riê kể lại: Anh Nguyễn vùi đầu trong thư viện từ sáng sớm đến tối khuya, ngày nào cũng vậy (!)... Một hôm Nguyễn Ái Quốc đọc được trên báo Nhân đạo - cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp in toàn văn bản "Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của V.I. Lênin. Đó là vào ngày 16&17/7/1920. Anh đọc như uống từng câu từng chữ của Lênin, háo hức, say xưa và xúc động... Sau này Anh kể lại: "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta". Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba".[10] Tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc kêu gọi ủng hộ Quốc tế thứ ba, ủng hộ Lênin và anh đã trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, lúc đó là 2h30 phút sáng ngày 30/12/1920 tại thành phố Tua nước Pháp. Chính Chủ nghĩa Lênin đã soi sáng Nguyễn Ái Quốc, giúp anh hệ thống lại những nhận xét thành quan điểm, thành tư tưởng. Từ những nhận định: "nhân dân các nước thuộc địa dù màu da có khác nhau, tiếng nói có khác nhau, nhưng đều bị CNĐQ bóc lột tàn tệ như nhau", hoặc "trên đời này chỉ có 2 giống người đó là những kể đi xâm lược và những người bị áp bức", "và chỉ có một thứ tình là tình hữu ái giai cấp"; rồi "phong trào công nhân ở chính quốc không thể tách rời phong trào công nhân ở các thuộc địa nếu muốn đánh đổ CNTB; rồi "CNTB là con đỉa có một vòi bám vào giai cấp vô sản chính quốc và một vòi hút máu nhân dân thuộc địa"... Và đi đến một kết luận có tính nguyên lý là: "Chỉ có giải phóng được giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới."[11]. Nghĩa là muốn cứu nước thì phải làm cách mạng giải phóng, muốn giải phóng dân tộc mình thì đồng thời phải giải phóng toàn bộ các dân tộc bị áp bức, công cuộc giải phóng ấy được đặt trong thời đại mới – thời đại của cách mạng vô sản.

Thế là, từ một người yêu nước chân chính, có trí thức và rất tạo bạo trong việc quyết định lựa chọn con đường sang phương Tây tới nước Pháp. Tự nguyện thực hiện "vô sản hoá" để lao động, học hỏi và khám phá thế giới và trưởng thành trong phong trào công nhân và phong trào cách mạng ở các nước Âu, Mỹ. Nguyễn Ái Quốc gặp chủ nghĩa Lê-nin và đã tìm ra con đường giải phóng cho nhân dân ta và nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc. Năm đó, Nguyễn Ái Quốc vừa tròn 29 tuổi./.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập. T6. Nxb CTQG, HN, 1995, tr. 171

[2] Tư tưởng Hồ Chí Minh về Độc lập dân tộc và CNXH, Nxb CTQG, HN, 2003, tr. 43-44

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T1, Nxb CTQG, HN, 1995 - Trg 477

[4] Hồng Hà - Thời thanh niên của Bác Hồ. Nxb TN, HN, 1976 - Trg 28.

[5] Tư tưởng Hồ Chí Minh về Độc lập dân tộc và CNXH. Sđd. Trg 45.

[6] Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 1. Sđd. Trg 52.

[7] Hồng Hà - Thời thanh niên của Bác Hồ. Sđd - Trg 31.

* Câu nói của Các Mác được trích lại trên mộ của Người tại vườn hoa Hay-đơ, Luân-đôn nước Anh.

[8] Trích theo Hồng Hà. Thời thanh niên của Bác Hồ. Sđd. Trg 36.

[9] Trích theo Hồng Hà. Thời thanh niên của Bác Hồ. Sđd. Trg 52.

[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T10. Nxb CTQG, HN, 1996. Trg 127.

[11]Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập 1. Sđd. Trg 416.

Đỗ Thị Thu Hằng, Nguyễn Thúy Hồng Duyên

                                                              Bảo tàng Hồ Chí Minh