Trang chủ Hồ Chí Minh với con đường giải phóng dân tộc Quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh với sự lựa chọn con đường giải phóng cho dân tộc

Quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh với sự lựa chọn con đường giải phóng cho dân tộc

Mỗi quốc gia, dân tộc trong tiến trình phát triển đều phải lựa chọn cho mình một con đường đi phù hợp. Sự lựa chọn con đường phát triển của đất nước trong mỗi thời kỳ lịch sử thường gắn với tên tuổi của một vĩ nhân, một anh hùng lỗi lạc của dân tộc. Hồ Chí Minh cũng là một vĩ nhân như vậy. Người đã có công lớn trong việc tìm ra con đường giải phóng dân tộc khỏi sự thống trị của chủ nghĩa thực dân. Qúa trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Người bắt đầu với sự kiện đầy tính biểu tượng - rời bến cảng Nhà Rồng sang phương Tây vào ngày 5/6/1911 trên con tàu buôn mang tên Đô đốc Latouche Tréville. Đó là chuyến ra đi thế kỷ, là khởi nguồn của những biến đổi không chỉ trong nhận thức của Người mà còn là điểm bắt đầu cho quá trình lựa chọn con đường cứu nước mới, giải phóng dân tộc Việt Nam.

Trở lại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, lịch sử đã đặt ra cho dân tộc hai nhiệm vụ cấp bách cần phải giải quyết: đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập dân tộc và canh tân đất nước, đưa Việt Nam đuổi kịp các nước văn minh trên thế giới. Hai nhiệm vụ này gắn bó chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau không thể tách rời. Tuy nhiên, trong quan hệ này giải phóng dân tộc trở thành nhiệm vụ cấp bách, cần phải thực hiện trước tiên. Phát triển đất nước là nội dung quan trọng của tiến trình cách mạng nhưng mục tiêu này chỉ có thể được thực hiện có hiệu quả khi dân tộc được giải phóng, độc lập.

Như một phản ứng tự nhiên, đặc biệt khi gắn với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, từ 1858 đến những năm cuối thế kỷ XIX, cả dân tộc Việt Nam phải đương đầu với họa xâm lược của thực dân Pháp, các cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã nổ ra và lan rộng khắp cả nước với tất cả tinh thần anh dũng: từ cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Nguyễn Trung Trực,... ở miền Nam; Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng,... ở miền Trung, đến Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Ngọc Bích ở miền Bắc. Các cuộc nổi dậy đều được thúc đẩy bởi tinh thần yêu nước nhiệt thành và chí căm thù giặc sôi sục, trên thực tế các phong trào đấu tranh này đã khiến thực dân Pháp không thể thực hiện được âm mưu đánh nhanh thắng nhanh, nhưng cuối cùng đều lần lượt thất bại vì chưa có một đường lối kháng chiến đúng đắn. Cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là đặc điểm lớn nhất của phong trào yêu nước, đã chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và tư tưởng trước nhiệm vụ lịch sử của dân tộc.

Những năm 60, 70 của thế kỷ XIX, bắt đầu hé mở một hướng mới của con đường cứu nước, khác hẳn những con đường đấu tranh giải phóng đất nước khỏi ách thống trị ngoại bang mà dân tộc ta đã tiến hành. Đó là những ý tưởng mới được đề xuất trong các bản điều trần của các nhà nho yêu nước được tiếp xúc với văn hóa, chính trị Phương Tây và Nhật Bản trong buổi đầu canh tân đất nước. Nội dung chủ yếu của những ý tưởng mới đó là mở rộng cửa đất nước để đón nhận thành tựu văn minh Phương Tây, kết hợp với văn hóa dân tộc, xây dựng nền kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học kỹ thuật theo hướng tư bản chủ nghĩa, tạo lập một nền quốc phòng vững mạnh.

Tiếng nói của con đường cứu nước bằng cải cách như một luồng gió mới vượt lên sự bảo thủ, trì trệ của chế độ phong kiến lấy Nho giáo là nền tảng tư tưởng. Tuy vậy, tiếng nói đó chưa đủ mạnh để có thể tạo ra sự thay đổi và đã bị rơi vào lãng quên, không được triều đình Huế tiếp nhận và thực thi.

Những ý tưởng của các nhà yêu nước thuộc xu hướng cải cách tiêu biểu như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện được ghi nhận như những khát vọng của độc lập và phát triển, nảy sinh trong cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống chủ nghĩa thực dân xâm lược.

Bước sang đầu thế kỷ XX, sau khi tạm thời dập tắt các cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân ta, thực dân Pháp bắt tay thực hiện công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội truyền thống Việt Nam có sự chuyển biến và phân hóa sâu sắc. Giai cấp công nhân, các tầng lớp tiểu tư sản và tư sản dân tộc bắt đầu manh nha. Cùng lúc đó, các “Tân thư” và ảnh hưởng của cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu tràn vào Việt Nam. Phong trào chống Pháp của nhân dân ta dần chuyển sang hướng dân chủ tư sản, với sự xuất hiện của phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang phục hội... Người thì chủ trương trước hết hãy dựa vào Pháp để “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” như Phan Châu Trinh; người thì hy vọng dựa vào Nhật Bản để đánh đuổi Pháp như Phan Bội Châu. Cả hai cách này đều không thực tế và sai lầm, kết cục đã sớm bị thất bại.

Ở thập kỷ đầu của thế kỷ XX, phong trào cứu nước của nhân dân ta lâm vào tình cảnh khó khăn nhất. Trường Đông Kinh nghĩa thục bị đóng cửa (1907), vụ Hà thành đầu độc bị thất bại và tàn sát (1908), cuộc biều tình chống thuế ở miền Trung bị đàn áp (1908), căn cứ nghĩa quân Yên Thế bị bao vây và đánh phá (1909); phong trào Đông Du tan rã, Phan Bội Châu và các đồng chí của Ông bị trục xuất khỏi nước Nhật (1909), các lãnh tụ của phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ cũng bị tàn sát...

Cùng với các chương trình khai thác thuộc địa, đến đầu thế kỷ XX, giai cấp tư sản Việt Nam đã xuất hiện bộ phận tư sản dân tộc, họ cũng có tinh thần yêu nước, chống đế quốc, nhưng do địa vị của một giai cấp tư sản ở thuộc địa, họ tỏ ra yếu đuối, không đủ sức lãnh đạo, đưa cuộc đấu tranh chống Pháp đến thắng lợi. Từ sau năm 1925, giai cấp tư sản đã lập ra một số đảng chính trị, đã có một số hoạt động, kể cả phát động khởi nghĩa, nhưng cuối cùng đều thất bại; nguyên nhân; một là do không tập hợp được đông đảo quần chúng; hai là vì yêu cầu cách mạng của nhân dân đặt ra lại vượt quá giới hạn của giai cấp tư sản. Từ năm 1930 trở đi, không còn một đảng tư sản nào ra đời nữa. Vai trò lịch sử của họ đã hết. Khả năng đóng góp của họ vào cách mạng giải phóng dân tộc của họ chỉ được phát huy khi có Đảng Cộng sản.

Nhìn ra thế giới, cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc do Tôn Dật Tiên lãnh đạo đã lật đổ được triều đình Mãn Thanh, nhưng chưa giải quyết được hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội Trung Quốc. Nước Trung Hoa vẫn là một nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến. Nhân dân Ấn Độ dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản, cũng đã nhiều lần nổi lên chống đế quốc Anh, nhưng kết cục đều bị đàn áp đẫm máu...

Thất bại của cuộc đấu tranh yêu nước chống Pháp của nhân dân ta đầu thế kỷ XX đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyế nhưt: đi theo con đường nào, do lực lượng nào lãnh đạo để đưa công cuộc giải phóng đi đến thắng lợi?

Lịch sử đặt ra nhu cầu bức thiết phải có một hệ tư tưởng mới, một đường lối mới đủ sức soi sáng, dẫn dắt con đường đấu tranh cứu nước, giải phóng dân tộc đi tới thắng lợi. Nhiệm vụ lịch sử đó đặt lên vai thế hệ thanh niên lớp Nguyễn Tất Thành.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình khoa bảng có truyền thống yêu nước, thân dân; được trang bị những kiến thức cơ bản về học vấn, lại sớm tham gia và được chứng kiến sự thất bại của các cuộc đấu tranh của nhân dân ở nhiều nơi đã hình thành ở Nguyễn Tất Thành lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Nhận thức được nguyên nhân thất bại của các phong trào đấu tranh, sớm ý thức và mong muốn đi tìm con đường cứu nước mới. Con đường đó là gì, ở thời điểm đó (trước 1911) Người chưa hình dung một cách rõ nét nhưng nó phải khác với những con đường mà dân tộc đã trải qua, để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đi tới thắng lợi. Đây là nhận thức ban đầu nhưng rất quan trọng đối với Hồ Chí Minh trong việc tìm đường cứu nước. Trần Dân Tiên trong Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch đã ghi lại: “... Ở tuổi mười lăm, người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, anh đã có ý chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh đã tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc. Anh khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào”[1]. Tâm sự với một người bạn, Người nói: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”[2].

Với mục tiêu đó, anh đã ra nước ngoài để quan sát, tìm hiểu. Trả lời phỏng vấn về mục đích đến nước Pháp, Người khẳng định: “Để đòi những quyền tự do mà chúng tôi phải được hưởng”. Sau này, cắt nghĩa việc bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế thứ Ba, Người đã nói rõ: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Cuộc hành trình gần mười năm đã đưa Nguyễn Tất Thành đến nhiều vùng đất thuộc châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ... những chuyến đi đã giúp Người có cơ hội được quan sát, nhận biết sâu sắc diện mạo của thế giới tư bản chủ nghĩa, trong đó hiện lên rất rõ nét những đặc trưng cơ bản của sự phân hóa, đối nghịch giữa người giàu và người nghèo, giữa những người bị áp bức, bóc lột và những kẻ thống trị nắm quyền uy, giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với một số ít dân tộc đế quốc xâm lược và thống trị. Đó cũng là quá trình Người học tập, tích lũy tri thức, nghiên cứu lý luận và đối chiếu lý luận với thực tế, tham gia hoạt động trong một số tổ chức chính trị - xã hội.

Ở chặng cuối của cuộc hành trình tìm đường cứu nước, năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp, chính đảng lớn nhất và duy nhất ở Pháp bênh vực quyền lợi của giai cấp công nhân. Song trong chương trình hoạt động của đảng này, vấn đề giải phóng dân tộc chưa đề cập tới, mặc dù Hồ Chí Minh đánh giá: “Đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI”[3].

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, năm 1919, Nguyễn Ái Quốc thay mặt nhóm những người Việt Nam yêu nước gửi đến Hội nghi Vécxây bản Yêu sách của nhân dân An Nam đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng dân tộc của Việt Nam. Đồng thời Người cũng mong nhận được sự ủng hộ của các nước Đồng minh. Bản Yêu sách không được chấp nhận, điều đó càng giúp Nguyễn Ái Quốc nhận rõ bản chất “chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm”, đi ngược lại những giá trị mà nó tuyên bố, ghi nhận. Người cũng đi tới kết luận: các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức của bản thân mình.

Cũng cần phải đề cập tới trong hành trình cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành khảo sát các cuộc cách mạng trên thế giới. Trước hết là mô hình cách mạng tư sản Mỹ (1776) và cách mạng Pháp (1789), và Người đã nhận thức một cách sâu sắc cả những ưu điểm và hạn chế của những mô hình cách mạng này. Hạn chế lớn nhất của các cuộc cách mạng ấy là ở chỗ, đó là những cuộc cách mạng “không đến nơi”, “không triệt để”, không đáp ứng được nhu cầu giải phóng các tầng lớp nhân dân lao động. Từ đây, Người rút ra bài học kinh nghiệm đối với cách mạng Việt Nam: “Chúng ta đã hy dinh làm cách mạng thì nên làm cho tới nơi...”. Như vậy, qua sự phân tích đánh giá của mình, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra lý luận và mô hình cách mạng tư sản không phải là sự lựa chọn tối ưu cho cách mạng Việt Nam.

Trong thời gian hoạt động ở Pháp, qua nhiều kênh khác nhau, Hồ Chí Minh biết đến cách mạng tháng Mười Nga (1917) và đã tham gia vào nhiều phong trào ủng hộ cuộc cách mạng này. Theo đánh giá của Hồ Chí Minh “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi”[4]. Người cũng hiểu rằng sự nghiệp cách mạng của Việt Nam cần thiết phải có sự giúp đỡ từ bên ngoài, trong đó có cách mạng Nga.

Tháng 7/1920, một sự kiện quan trọng trong hành trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh, đó là việc Người được đọc bản Bản sơ thảo lần thứ nhất Những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Người coi đây là cái cẩm nang giải phóng cho dân tộc Việt Nam: “... Bản Luận cương đã làm cho tôi cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi xúc động phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta””[5].

Câu hỏi đặt ra là vì sao Nguyễn Ái Quốc lại có tâm trạng như vậy khi đọc Luận cương của Lênin?

Có thể nói Luận cương đã luận giải một cách ngắn gọn, sáng tỏ những nội dung chủ yếu về cách mạng giải phóng dân tộc, soi tỏ hướng đi và biện pháp quan trọng nhất đưa sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa giành được thắng lợi hoàn toàn. Đặt trong hoàn cảnh một người đã để 9 năm thanh niên của mình để đi tìm đường cứu nước mà chưa được, nay tìm ra “cẩm nang” để giải phóng dân tộc thì mới hiểu được tâm trang của Người.

Qua tác phẩm trên, Hồ Chí Minh đã tìm thấy cho dân tộc mình một chủ nghĩa “chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất”, đóng vai trò nền tảng tư tưởng, công cụ để nhận thức và giải quyết những vấn đề xã hội hiện thực. Cũng từ đây Người đã nhận biết một tổ chức chính trị quan trọng mà mình cần tham gia - Quốc tế III, do Lênin sáng lập và lãnh đạo, cũng là tổ chức rất coi trọng vấn đề giải phóng thuộc địa và tiến hành đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản, nhân dân lao động, đặc biệt là nhân dân các dân tộc bị áp bức.

Và kể từ sau khi tiếp xúc với bản luận cương của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã hình thành nên quan điểm về giải phóng dân tộc: cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam muốn thắng lợi phải theo con đường cách mạng vô sản.

Tuy nhiên, trên thực tế không phải ngay sau khi đọc Luận cương của Lênin, Hồ Chí Minh đã lựa chọn giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản mà sự lựa chọn ấy có được nhờ quá trình “nghiên cứu lý luận Mác - Lênin”, quá trình “làm công tác thực tế”. Khoảng thời gian từ lúc Hồ Chí Minh tiếp xúc với Luận cương của Lênin đến lúc quyết định lựa chọn con đường cách mạng vô sản không dài nhưng lại rất cần thiết cho việc khẳng định sự lựa chọn. Thông qua một số bài viết như: Bài phát biểu tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp diễn ra vào cuối năm 1920, đặc biệt là qua hai tác phẩm có tên Đông Dương (4/1921) và Phong trào cộng sản quốc tế - Đông Dương (5/1921), Hồ Chí Minh đã chứng minh “Chủ nghĩa cộng sản dễ dàng thâm nhập vào châu Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu”[6]. Đây là biểu hiện rõ nhất việc Hồ Chí Minh lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Một sự lựa chọn dứt khoát sau khi đã được chứng minh phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Với việc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và nhận thức rõ con đường cách mạng Việt Nam, trong những năm đầu thập kỷ 20 của thế kỷ XX, hoạt động của Hồ Chí Minh được triển khai trên một phạm vi rộng lớn, trong nhiều lĩnh vực rất đa dạng và phong phú. Qua thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác lập hệ thống các luận điểm cách mạng đặt nền móng cho con đường cách mạng Việt Nam, đó là: cách mạng Việt Nam vận động theo quỹ đạo của cách mạng vô sản, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, về vai trò của cách mạng thuộc địa trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới... Những vấn đề cơ bản của con đường cách mạng Việt Nam được Người xác định trong nhiều tác phẩm như: Đường cách mệnh (1927), Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng (1930) và được tiếp tục cụ thể hóa, phát triển sâu sắc hơn trên những chặng đường, những nấc thang hướng tới các mục tiêu của cách mạng Việt Nam.

Lựa chọn giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc đã đặt cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam trong quỹ đạo của cách mạng vô sản. Từ đây “giải phóng dân tộc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh được xác định là “giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản”, tức là hướng cách mạng giải phóng dân tộc theo những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; không chỉ dừng lại ở giải phóng dân tộc, mà cuộc cách mạng của Việt Nam còn hướng tới những nội dung quan trọng tiếp theo là giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Lựa chọn giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, thực hiện mục tiêu giải phóng “dân tộc, giai cấp, con người”, đồng thời Hồ Chí Minh đã xác định một cách tổng quát lộ trình của cách mạng Việt Nam trải qua 3 giai đoạn: Giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội (gắn độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội). Lộ trình đó đã được Người khái quát trong Cương lĩnh chính trị đâù tiên của Đảng: “nên chủ trương làm tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[7]. Và trên thực tế cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua đã vận động theo lộ trình này đã chứng minh cho sự lựa chọn của Người.

Có thể khẳng định rằng 10 năm hoạt động không mệt mỏi trên một địa bàn rộng lớn, trong những trách nhiệm cực kỳ đa dạng và khó khăn nhưng lại có vai trò rất quan trọng đối với Hồ Chí Minh. Qua thực tiễn hoạt động Người đã tìm kiếm và lựa chọn con đường giải phóng cho dân tộc. Đúng như nhận xét của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Những điều mắt thấy tai nghe và những hoạt động chính trị xã hội trong 10 năm đi khắp các nước, đã giúp chi Nguyễn Ái Quốc từ tinh thần yêu nước gắn một cách tự nhiên với tinh thần quốc tế; từ tình cảm yêu thương thông cảm với những người “cùng khổ”, ý thức giai cấp từng bước được nảy nở, hình thành. Chính đó là cơ sở tư tưởng để người phấn khởi tiếp thu bản “Sơ thảo Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin; và đến Đại hội Tours vào năm 1920 thì kiên quyết đứng về phía Quốc tế thứ III. Đây là một bước ngoặt, một sự chuyển biến về chất trong tư tưởng và cuộc đời của Người. Trở thành người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, vừa là người yêu nước chân chính vừa là người cộng sản Việt Nam đầu tiên”[8].

Tóm lại, Qúa trình tìm đường cứu nước gắn với tìm ra con đường giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh diễn ra trong khoảng thời gian 10 năm kể từ 1911. Có thể xem đây là quá trình Hồ Chí Minh “gặp gỡ” lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời đã thể hiện sự sáng tạo của Người trong việc tiếp thu, vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để đề ra con đường cách mạng Việt Nam.



[1] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr.10.

[2] Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr.11.

[3] Viện nghiên cứu Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Hà Nội, 1992, tập 1, tr.64.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 10, tr.127

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 2, tr.280.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 1, tr.35.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 2, tr.2.

[8] Trần Văn Giàu: Sự hình thành về cơ bản Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.79.

Đặng Anh Dũng

                                                          Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn