Trang chủ Đưa nghị quyết đại hội XI của Đảng vào cuộc sống Về sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ

Về sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ

 1. Một quyết định hệ trọng có tầm vóc lịch sử

Trong những năm gần đây, Đảng ta đã xác định phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt và văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.

anhthongtanxaVn

Đại hội XI (tháng 1-2011) lại đặc biệt nhấn mạnh, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là nhiệm vụ hàng đầu trong những nhiệm vụ của nhiệm kỳ khóa XI.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội XI thông qua, khi tổng kết những bài học lớn của quá trình cách mạng Việt Nam cũng nêu rõ, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng.

Hội nghị Trung ương 4, khóa XI vừa qua, Đảng ta đã ra Nghị quyết về một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Đây là một nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng, một nghị quyết có ý nghĩa lịch sử, thu hút được sự quan tâm chú ý đặc biệt trong Đảng và trong dân, được dư luận xã hội đánh giá cao.

Chưa bao giờ vấn đề xây dựng Đảng lại trở nên cấp thiết, bức xúc như lúc này. Hội nghị Trung ương đã xác định 3 vấn đề cấp bách, đó là:

- Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

- Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Nghị quyết Trung ương 4 cũng nhấn mạnh, trong 3 vấn đề nêu trên, vấn đề thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất.

Phân tích nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, Nghị quyết cũng nhấn mạnh nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, từ đó đề ra mục tiêu, phương châm và những nhóm giải pháp lớn, tập trung nỗ lực của toàn Đảng với sự giúp đỡ, hỗ trợ của toàn dân để tạo quyết tâm chính trị và hành động kiên quyết nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc nêu trên, nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Đây chính là những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ, chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Nếu không kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái này thì Đảng không thể trong sạch, vững mạnh, không thể nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng và do đó, địa vị cầm quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng sẽ bị thách thức.

Quả thật là, giải quyết những vấn đề bức xúc trong xây dựng Đảng hiện nay liên quan đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ.

Xây dựng Đảng là một công việc thường xuyên, luôn có tầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược, ở bất cứ giai đoạn phát triển nào của cách mạng cũng được Đảng đặc biệt quan tâm. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc, Đảng cách mạng phải là một Đảng chiến đấu, Đảng hành động. Đảng có hệ tư tưởng tiên tiến, khoa học và cách mạng dẫn đường, có phương hướng và đường lối chính trị đúng đắn, có sức mạnh của tổ chức chặt chẽ, kỷ luật tự giác và nghiêm minh, khi hành động phải thống nhất ý chí, giữ vững niềm tin khoa học, muôn người như một người. Sức mạnh ấy được tạo ra từ bản thân Đảng, đồng thời còn được nhân lên từ sức mạnh của nhân dân và dân tộc cũng như sự cổ vũ, thúc đẩy của thời đại. Mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với dân là điều vô cùng hệ trọng quyết định sức mạnh, sức chiến đấu của Đảng. Nhân dân và dân tộc làm nên cơ sở xã hội rộng lớn, bền vững của Đảng, là sức mạnh bảo vệ Đảng và cách mạng. Cách mạng lại là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng cách mạng chân chính, với phẩm chất tiền phong và gương mẫu, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì giai cấp, dân tộc và nhân dân, sẽ có sức mạnh tự bảo vệ. Một Đảng với những phẩm chất và sức mạnh như thế không thể tự nhiên mà có, nó là kết quả của quá trình rèn luyện, đấu tranh, trưởng thành của Đảng, của sự tôi luyện và thử thách mà toàn Đảng, từng tổ chức Đảng và từng cán bộ, đảng viên trải qua trong đấu tranh cách mạng giành chính quyền và trong tổ chức xây dựng, kiến thiết chế độ mới khi Đảng đã cầm quyền. Trong tiến trình đấu tranh cách mạng ấy, Đảng cũng trải qua những sự sàng lọc trong tổ chức và đội ngũ của mình để giữ cho Đảng trong sạch, vững mạnh, trải qua những thăng trầm, thành bại, trải nghiệm cả những sai lầm mắc phải, thậm chí là những sai lầm nghiêm trọng, gây nên những tổn thất lớn, phải rút ra những bài học đau đớn, phải dũng cảm vượt qua để lớn lên. Do đó, xây dựng Đảng  về chính trị, tư tưởng và tổ chức gắn liền mật thiết với nhau. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và bản lĩnh của Đảng tùy thuộc ở chất lượng và hiệu quả của công tác xây dựng Đảng nêu trên, luôn là vấn đề thường trực trong đời sống chính trị của Đảng, nằm ở trung tâm chú ý trong chương trình nghị sự của Đảng, nhất là từ khi Đảng ở vị trí Đảng cầm quyền.


images-2

Ở nước ta, Đảng Cộng sản là Đảng duy nhất cầm quyền. Đảng thực thi vai trò lãnh đạo và cầm quyền trong điều kiện Nhà nước pháp quyền, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế. Những thời cơ lớn của phát triển đan xen một cách phức tạp với những thách thức không kém phần nghiệt ngã trên con đường phát triển. Kinh tế thị trường với những mặt trái, những hệ lụy tiêu cực của nó tác động hàng ngày không chỉ tới xã hội, các quan hệ xã hội của con người mà còn ảnh hưởng, thâm nhập vào tổ chức Đảng, vào các cán bộ đảng viên cũng như vào tổ chức bộ máy Nhà nước và hệ thống chính trị nói chung.

Chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, vị kỷ, lối sống thực dụng chạy theo các giá trị vật chất đơn thuần, sức cám dỗ của đồng tiền, tham vọng địa vị, quyền lực, danh vọng đã trỗi dậy rất mạnh trong nền kinh tế thị trường. Những biến đổi về quan niệm sống, về giá trị, những lệch lạc trong định hướng giá trị, lựa chọn giá trị sống có liên quan tới lý tưởng và mục tiêu của cách mạng cũng tác động hàng ngày vào tâm lý, ý thức, lối sống và hành vi của cán bộ, đảng viên và người dân, nhất là lớp trẻ. Tình hình đó đặt tổ chức và con người, kể cả tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên trước những nguy cơ tha hóa, những sự suy thoái, biến chất mà rõ nhất là sự phai nhạt lý tưởng và niềm tin, sự xa rời các giá trị tinh thần, truyền thống đạo đức và văn hóa của dân tộc, xa rời nhân dân, làm tổn thương đến quan hệ giữa Đảng và dân, làm giảm sút niềm tin của nhân dân, của đảng viên đối với Đảng của mình.

Bởi lẽ đó, xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức phải gắn chặt với giáo dục và thực hành đạo đức, lối sống trong cán bộ đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nói một cách đầy đủ là học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân phải được đẩy mạnh, chú trọng tính thiết thực, hiệu quả, chống bệnh hình thức, phô trương, nhất là khắc phục bằng được tình trạng lời nói không đi đôi với việc làm, nói nhiều làm ít; đề cao trách nhiệm và chế độ trách nhiệm; đề cao tính kỷ luật và tính tổ chức; thực hành nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng, sự gương mẫu về đạo đức, lối sống, tu dưỡng tư tưởng, rèn luyện phẩm chất, nhân cách đảng viên.

Vào lúc này, cần phải tạo ra sự chuyển biến thật sự và mạnh mẽ trong từng tổ chức Đảng, từng cán bộ, đảng viên, trước hết là trong tập thể cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy về trách nhiệmsự gương mẫu đạo đức, lối sống. Đó sẽ là dấu hiệu tích cực nhất để khôi phục lại niềm tin, uy tín của Đảng trong quần chúng nhân dân. Đây cũng chính là nguyện vọng, là đòi hỏi của dân đối với Đảng. Phải coi đây là khâu đột phá trong xây dựng Đảng. Phẩm chất, đạo đức, lối sống và nhân cách của mỗi cán bộ, đảng viên làm nên sự trong sạch của Đảng. Có được sự trong sạch này, Đảng mới có sức mạnh để tự bảo vệ mình, để cổ vũ, thúc đẩy quần chúng noi theo. Đảng cầm quyền trong điều kiện kinh tế thị trường đòi hỏi rất nhiều năng lực, phẩm chất và bản lĩnh, nhưng nổi bật trước hết là dũng khí đẩy lùi “giặc nội xâm”, đánh bại chủ nghĩa cá nhân với vô số những biểu hiện phức tạp, tinh vi ở trong mỗi con người, mỗi tổ chức Đảng. Chống được sự thoái hóa, hư hỏng về đạo đức thì mới có bệ đỡ, nền tảng tinh thần như những giá trị văn hóa với sức mạnh nội tại để chống lại những suy thoái về tư tưởng chính trị, những yếu kém, xộc xệch trong tổ chức bộ máy, những suy giảm về nguyên tắc, về kỷ luật Đảng, bởi xét đến cùng, tất cả đều phụ thuộc vào chất lượng con người, chất lượng cán bộ đảng viên, chất lượng của từng tổ chức cơ sở Đảng. Đảng tồn tại và chiến đấu chỉ với một mục đích, một động cơ, một lý do duy nhất, là vì dân, làm tất cả những gì có thể làm được vì độc lập - tự do - hạnh phúc cho NƯỚC, cho DÂN, vì DÂN TỘC và NHÂN DÂN. Nếu Đảng thực sự vì dân thì dân gắn bó, tin yêu Đảng, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, hết lòng bảo vệ Đảng của mình, chế độ của mình. Có niềm tin và sự ủng hộ ấy của dân là có tất cả, ngược lại, mất dân cũng là mất hết, mất cả cơ đồ sự nghiệp. Lịch sử từ bao đời của những thăng trầm, thành bại đã minh chứng cho điều đó. Sự biến chính trị đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, Đảng mất vai trò cầm quyền, hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã 20 năm về trước, vẫn còn cảnh báo nghiêm khắc đối với chúng ta về bài học sinh tử đó, bài học về mối quan hệ giữa Đảng với dân. Muốn cho quan hệ này tốt đẹp, bền vững, nhất thiết Đảng phải trong sạch, vững mạnh, phải đoàn kết và thanh khiết, từ nhỏ đến lớn như Bác Hồ đã dạy, phải xứng đáng là Đảng chân chính cách mạng, là đạo đức, là văn minh như Bác Hồ đã nhấn mạnh.

Sau gần 70 năm cầm quyền, 25 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới, đem lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, sau nhiều nghị quyết về xây dựng Đảng, lần này, Hội nghị Trung ương 4, khóa XI đã lại thông qua Nghị quyết về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay. Nghị quyết đã ban hành, đã vang lên tiếng nói thức tỉnh, đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Nhân dân chia sẻ với Đảng tất cả nỗi lo âu, dằn vặt này về sinh mệnh của Đảng, về sự tồn vong của chế độ như chính sinh mệnh và sự tồn vong của mình trong đời sống hàng ngày, cũng như số phận của cả dân tộc.

Giờ là lúc hành động, hành động quyết liệt của toàn Đảng, toàn dân để Nghị quyết được chứng thực trong cuộc sống, để tạo ra chuyển biến thực sự tình hình trong Đảng, cũng là vì trách nhiệm cao nhất của Đảng đối với dân tộc và nhân dân.

2. Tổ chức thực hiện Nghị quyết, những việc cần làm ngay và những vấn đề cơ bản, lâu dài phải làm thường xuyên trong xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam do Bác Hồ sáng lập và rèn luyện là một Đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, theo học thuyết Đảng kiểu mới của Lênin.

aTW4_tcanh1

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện ra tính đặc thù trong quy luật thành lập Đảng của Đảng ta. Đó là sự kết hợp không chỉ chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân mà còn với phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam. Từ trong bản chất của mình, giai cấp công nhân gắn liền mật thiết với phong trào yêu nước, với truyền thống yêu nước của dân tộc. Sự thống nhất chặt chẽ giữa giai cấp công nhân, dân tộc và nhân dân lao động làm nên sức mạnh của Đảng. Xây dựng Đảng, do đó không chỉ là việc của nội bộ Đảng mà còn là việc của dân, của dân tộc Việt Nam, bởi uy tín và ảnh hưởng của Đảng trong lòng dân tộc và nhân dân sâu nặng đến mức mà mỗi người đều cảm nhận rằng, Đảng là Đảng của mình, của chính mình. Đó là niềm tự hào chính đáng của Đảng, của dân. Trong lịch sử phong trào cách mạng, lịch sử các đảng, không phải đảng cộng sản nào cũng được như vậy. Do đó, nhân dân quan tâm tới Đảng, có trách nhiệm xây dựng Đảng, Nhà nước và chế độ của mình.

Đảng càng phải nêu cao tinh thần trách nhiệm ấy. Hồ Chí Minh đã từ rất sớm chỉ rõ rằng, phải dựa vào dân mà xây dựng Đảng, căn cứ vào thái độ của dân mà xem xét lại đường lối, nghị quyết của mình, từ những biến đổi cuộc sống của dân mà đánh giá tác dụng, hiệu quả của đường lối chính sách để có những điều chỉnh cho phù hợp và kịp thời. Dựa vào dân mà chấn chỉnh tổ chức bộ máy, dựa vào dân mà giáo dục và rèn luyện cán bộ, đảng viên.

Khi viết tác phẩm Đường cách mệnh vào năm 1927, lúc Đảng còn chưa ra đời, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy, đảng cách mệnh, người cách mệnh phải “giữ chủ nghĩa cho vững” và phải “ít lòng tham muốn (ham muốn) về vật chất”. Đó là đòi hỏi rất hệ trọng về trí tuệ, bản lĩnh chính trị và đạo đức đối với Đảng.

20 năm sau, vào năm 1947, tại chiến khu Việt Bắc, Người viết Sửa đổi lối làm việc. Đây là tác phẩm đầu tiên thể hiện tư tưởng đổi mới trong điều kiện Đảng đã cầm quyền. Người nêu rõ 12 điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng, trong đó, điều quan trọng hàng đầu là Đảng và từng đảng viên phải có động cơ trong sáng, vào Đảng là để chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đảng là một tổ chức cách mạng chứ không phải một tổ chức để làm quan phát tài.

Người đặc biệt chú trọng giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng trong Đảng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, thực hành lý luận, phải chống bằng được thói coi khinh lý luận, phải trung thực và khiêm tốn, phải lãnh đạo một cách khoa học, lãnh đạo một cách dân chủ và lãnh đạo bằng sự gương mẫu. Một tấm gương sống còn quý hơn hàng trăm bài diễn văn. Suốt đời đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, phải có dũng khí chống lại những gì cũ kỹ, lạc hậu, mục nát, hư hỏng, tức là những cái xấu trong chính bản thân mình, có như vậy mới suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân được. Người cũng hình dung, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân phải thường xuyên, suốt đời và sẽ có không ít sự đau đớn ở trong lòng. Đó là xét về phương diện nhân cách đảng viên. Đối với toàn Đảng, Người nghiêm khắc chỉ rõ, một đảng mà không có dũng khí, không có can đảm phê bình và tự phê bình để khắc phục những khuyết điểm, sai lầm thì sẽ là một đảng hỏng. Một đảng có dũng khí tự phê bình và phê bình, nhìn thẳng vào những khuyết điểm, sai lầm, vạch rõ nguyên nhân vì sao mắc phải, quyết tâm sửa chữa bằng được những khuyết điểm, sai lầm ấy sẽ là một đảng cách mạng, chắc chắn, tiến bộ. Trong Di chúc để lại cũng như trong bài báo cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn trở đi trở lại vấn đề “quét sạch chủ nghĩa cá nhân, trau dồi đạo đức cách mạng”, căn dặn giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Với Hồ Chí Minh, tư tưởng, chính trị, tổ chức gắn liền làm một với đạo đức, văn hóa trong xây dựng Đảng, để Đảng luôn vì dân, tiên phong gương mẫu trước dân, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, để dân tin, dân phục, dân yêu, dân giúp đỡ, dân ủng hộ và dân bảo vệ. Để thực hành những việc cấp bách cần làm ngay trong xây dựng Đảng lúc này, cần phải tiến hành sâu rộng trong toàn Đảng việc tự phê bình và phê bình, từ Trung ương tới tận chi bộ cơ sở, từ các đảng viên lãnh đạo, có chức vụ đến toàn thể đảng viên, từ lãnh đạo chủ chốt, cấp cao tới các đảng viên thường. Cái mới của Nghị quyết Trung ương 4 lần này là đặt vấn đề tự phê bình và phê bình từ trên xuống, từ cấp cao nhất đến toàn Đảng. Đây là cuộc vận động giáo dục thực hành đạo đức, thực hành văn hóa chính trị sâu rộng trong Đảng, làm thực sự, làm nghiêm túc, kiên quyết, không né tránh, không hình thức; nó đòi hỏi ý thức chính trị rất cao, trách nhiệm rất cao của cán bộ, đảng viên trước dân tộc và nhân dân.

Đây là việc hoàn toàn có thể làm ngay và làm thường xuyên, không có gì phải chuẩn bị, phải tốn kém. Vấn đề đặt ra là: Có thực sự quyết tâm hay không, có đủ dũng cảm tự phê phán và phê phán hay không?; Có xuất phát từ động cơ trong sáng, vì Đảng, vì dân hay không?; Có công tâm hay không?. Ghi nhớ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đấu tranh phê bình phải có lý có tình, thấu tình đạt lý, có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, phê bình công việc chứ không xúc phạm con người, mỗi người là một nhân cách, phải trọng nhân cách của người ta.

Để tự phê bình và phê bình trong Đảng thực sự nghiêm túc, có tác dụng và hiệu quả, sự gương mẫu và trách nhiệm của cấp ủy, của người đứng đầu rất quan trọng. Nghị quyết lần này đặt thẳng vấn đề gương mẫu và trách nhiệm từ Trung ương, từ Bộ Chính trị và Ban Bí thư đến các cấp ủy các cấp.

Nghị quyết cũng chỉ ra yêu cầu phải công khai, minh bạch, công tâm, nghiêm túc trong việc giải quyết dứt điểm những vụ việc tồn đọng kéo dài, xử lý nghiêm minh theo pháp luật những vụ án đã gây bức xúc trong xã hội để khôi phục lòng tin của dân. Phải tăng cường kiểm tra giám sát trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước, thực hiện kê khai tài sản của cán bộ, đảng viên, từ đó nghiêm trị những thủ đoạn làm giàu bất chính, những hành vi bất minh, phi pháp, đẩy lùi quốc nạn tham nhũng.

Để phát huy dân chủ, đề cao vai trò của dân, phải bảo đảm sự tôn trọng, lắng nghe ý kiến của dân, tiếp thu và kịp thời sửa chữa khuyết điểm từ những phê bình, góp ý đúng đắn của nhân dân. Phải từ đó xem xét, đánh giá, bố trí cán bộ. Với người không đủ năng lực, không đủ tín nhiệm, không xứng đáng về mặt phẩm chất đạo đức thì phải kịp thời thay thế, giải quyết, không đợi hết nhiệm kỳ hay đến tuổi nghỉ hưu.

Những quy định cụ thể như vậy trong Nghị quyết lần này là những điểm mới cho thấy thái độ kiên quyết của Đảng làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Sự nhất quán đó được thể hiện rất rõ trong mục tiêu, quan điểm, phương châm xây dựng Đảng của Đảng ta. Nghị quyết Trung ương lần này đã thực sự gắn xây dựng với đổi mới và chỉnh đốn Đảng trong một tổng thể các nhiệm vụ và giải pháp. Tính đồng bộ giữa xây dựng Đảng với tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, giữa xây dựng Đảng với tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, với đổi mới hệ thống chính trị, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, đẩy mạnh thực hành dân chủ, nhất là thực hành dân chủ trong Đảng, đổi mới cơ chế và chính sách, trong đó có chính sách tiền lương… là một nét mới trong Nghị quyết xây dựng Đảng lần này.

Nghị quyết cũng chỉ ra vấn đề đổi mới công tác tổ chức cán bộ, chú trọng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược (Trung ương) bảo đảm chủ động nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Đề cao trách nhiệm và chế độ trách nhiệm của tập thể cấp ủy, nhất là người đứng đầu, gắn với mối liên hệ với các cấp chính quyền, đoàn thể, đơn vị công tác. Bấy lâu nay, đây vẫn là những yếu kém, bất cập. Chỉ có đề cao trách nhiệm tập thể và trách nhiệm cá nhân mới có thể giữ nghiêm được kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, từ trên xuống dưới.

Những nhiệm vụ, giải pháp đó là cơ bản, lâu dài, thường xuyên, đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ trong xây dựng - đổi mới - chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là một đảng lãnh đạo, cầm quyền.

Làm cho Đảng ngang tầm với nhiệm vụ phải không ngừng nâng cao tiềm lực tư tưởng, năng lực trí tuệ, trình độ lý luận của Đảng. Do đó, phải ra sức đẩy mạnh giáo dục lý luận chính trị, đổi mới phương pháp và phong cách đào tạo bồi dưỡng cán bộ, gắn liền lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành.

Những điều nói trên được thể hiện rất rõ trong bốn nhóm giải pháp lớn, bao gồm cả việc cấp bách phải làm ngay (tự phê bình và phê bình, thực hành đạo đức, thực hành dân chủ…) và những việc phải khẩn trương nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, chuẩn bị các điều kiện, bảo đảm cho việc triển khai nghị quyết nghiêm túc, thiết thực và hiệu quả. Triển khai thực hiện nghị quyết lần này là thể hiện sinh động một lần nữa Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN VÀ PHÉP NƯỚC, là quyết tâm chính trị và hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn dân đưa sự nghiệp Đổi mới tới thắng lợi vì hạnh phúc và quyền làm chủ của nhân dân.

GS.TS. Hoàng Chí Bảo

Hội đồng Lý luận Trung ương