Trang chủ 70 năm ngày Truyền thống Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật Nhà xuất bản Sự thật trong thời kỳ cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội (1975 - 1992) (Phần 2 - Nhà xuất bản Sự thật trong những năm đầu đổi mới, tiếp tục xuất bản sách khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và vai trò lãnh đạo của đảng (1986 - 1992))

Nhà xuất bản Sự thật trong thời kỳ cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội (1975 - 1992) (Phần 2 - Nhà xuất bản Sự thật trong những năm đầu đổi mới, tiếp tục xuất bản sách khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và vai trò lãnh đạo của đảng (1986 - 1992))

Từ cuối năm 1986, cùng với bước chuyển của đất nước sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Nhà xuất bản Sự thật bước vào giai đoạn phát triển mới. Hoạt động của Nhà xuất bản trong giai đoạn này diễn ra trong bối cảnh có hai đại hội rất quan trọng của Đảng, đó là Đại hội lần thứ VI và Đại hội lần thứ VII. Đại hội lần thứ VI là đại hội mở đầu thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, Đại hội lần thứ VII là đại hội kế thừa và quyết tâm đổi mới, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn, đưa đất nước tiếp tục tiến lên trong bối cảnh thế giới cực kỳ phức tạp. Đối với ngành xuất bản nói chung và Nhà xuất bản Sự thật nói riêng, hai đại hội này có ý nghĩa hết sức quan trọng, không những vạch ra phương hướng đề tài sách trong những năm cuối thế kỷ XX, mà còn chỉ ra những phương hướng đổi mới các hoạt động trong Nhà xuất bản nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của mình. Thể chế hóa đường lối đổi mới trong lĩnh vực xuất bản, Nhà nước từng bước ban hành một số chính sách mới đáp ứng được một phần yêu cầu đổi mới sự nghiệp xuất bản như chế độ nhuận bút, chế độ đặt hàng, chế độ trợ giá...

Hoạt động trong bối cảnh đó, một mặt Nhà xuất bản Sự thật có nhiều thuận lợi như: được sự lãnh đạo sát sao của Ban Bí thư Trung ương Đảng, có đội ngũ cán bộ đã được thử thách trong kháng chiến và trong xây dựng, mặt khác, Nhà xuất bản cũng còn không ít khó khăn, thách thức như: cán bộ, nhân viên Nhà xuất bản nhiều năm hoạt động trong cơ chế bao cấp, nay trước yêu cầu mới, năng lực về nhiều mặt còn hạn chế, tổ chức và nhất là phương thức hoạt động chưa chuyển kịp theo yêu cầu của cơ chế mới, khó khăn nổi lên lúc đó là công tác phát hành tiêu thụ sách...

Trong thời gian đó, do yêu cầu sắp xếp cán bộ, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã quyết định tăng cường và sắp xếp lại Ban Lãnh đạo Nhà xuất bản. Đồng chí Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng được điều động về làm Giám đốc Nhà xuất bản; đồng chí Phạm Thành, nguyên Giám đốc - Tổng Biên tập làm Tổng Biên tập; đồng chí Đống Ngạc, nguyên Phó Văn phòng Trung ương Đảng, Trợ lý Tổng Bí thư Lê Duẩn được điều động về làm Phó Tổng biên tập; đồng chí Nguyễn Linh là Phó Giám đốc biệt phái phụ trách Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh. Các đồng chí mới được bổ sung vào Ban Lãnh đạo Nhà xuất bản là những người đã từng nhiều năm làm công tác lãnh đạo, có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu, từng tham gia các công việc của Đại hội lần thứ VI của Đảng. Ban Lãnh đạo mới cùng toàn thể cán bộ, nhân viên Nhà xuất bản vững vàng bước vào giai đoạn mới - giai đoạn đổi mới các hoạt động của Nhà xuất bản nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ đổi mới.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ trong hoàn cảnh mới, việc đầu tiên là cán bộ, nhân viên Nhà xuất bản phải nắm vững đường lối, quan điểm đổi mới của Đảng. Ban Giám đốc đã cùng Đảng ủy tổ chức nghiên cứu các văn kiện của Đại hội lần thứ VI và thảo luận kỹ chương trình hành động của Nhà xuất bản trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới. Về mối quan hệ giữa phục vụ nhiệm vụ chính trị và kinh doanh của Nhà xuất bản, có ý kiến muốn giữ nguyên cơ chế bao cấp cũ, cho rằng xuất bản sách chính trị là để phục vụ nhiệm vụ chính trị, tư tưởng, không cần tính toán kinh doanh, mọi kinh phí xin Nhà nước cấp. Ngược lại, có ý kiến cho rằng Nhà xuất bản là một doanh nghiệp, để tồn tại chỉ nên xuất bản những sách có thể bán được dù sách đó không phù hợp chức năng, nhiệm vụ của Nhà xuất bản, miễn là không sai về nội dung. Sau nhiều lần thảo luận và qua thực tiễn, Nhà xuất bản đã dần đi đến khẳng định: phục vụ nhiệm vụ chính trị là nhiệm vụ sống còn hàng đầu của Nhà xuất bản, kinh doanh là cần thiết với tính cách là phương tiện để thực hiện nhiệm vụ chính trị, phải gắn kết hai hoạt động đó chứ không được tách rời và đối lập chúng với nhau. Nhà xuất bản cố gắng sản xuất, kinh doanh tốt để có thể cân bằng thu - chi, nhưng phải đặt nhiệm vụ chính trị lên hàng đầu và tuyệt đối không được chạy theo lối thương mại hóa công tác xuất bản sách chính trị. Việc khẳng định và thực hiện nhất quán quan điểm này đã thể hiện sự nhạy bén và bản lĩnh chính trị vững vàng của lãnh đạo Nhà xuất bản.

Một vấn đề khác được đặt ra là phát huy dân chủ, nâng cao ý thức làm chủ và tính năng động của cán bộ, nhân viên nhằm mục tiêu “Năng suất, chất lượng, hiệu quả”. Do sống và làm việc lâu năm trong cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, nên khi chuyển sang cơ chế mới, khá nhiều cán bộ hết sức thụ động, chỉ biết “chỉ đâu đánh đấy”. Từ tình hình đó, Ban Giám đốc và Đảng ủy Nhà xuất bản đã đề ra chủ trương: trong điều kiện mới phải đặc biệt phát huy ý thức làm chủ, tính năng động của cán bộ trong cơ quan, khuyến khích mọi người chủ động đóng góp ý kiến nhằm tháo gỡ các khó khăn, theo tinh thần mỗi người, mỗi đơn vị tự tháo gỡ khó khăn của mình và góp phần tháo gỡ khó khăn chung của cơ quan. Mọi quyết định quan trọng của Ban Giám đốc đều được thảo luận trong Đảng ủy, các quyết định của lãnh đạo đơn vị được bàn trong chi ủy, chi bộ. Dân chủ trong cơ quan được phát huy, ý thức làm chủ, tính năng động dần được nâng lên.

Phương châm “Năng suất, chất lượng, hiệu quả” được coi là khẩu hiệu hành động của Nhà xuất bản thời kỳ này. Để đi vào hoạt động thực tiễn, Nhà xuất bản đã khẳng định rằng: cần phải đổi mới các mặt hoạt động của Nhà xuất bản, nhưng đổi mới phải giữ vững các nguyên tắc, một mặt, phải nắm chắc và làm đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của một nhà xuất bản chính trị, lý luận của Đảng, kiên quyết bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng; mặt khác, phải nâng cao chất lượng lý luận - chính trị, sức hấp dẫn và sức thuyết phục của các ấn phẩm, phải tổ chức tốt việc sản xuất kinh doanh của Nhà xuất bản để dần dần có thể cân bằng thu - chi, mạnh dạn xoá bỏ các khuôn sáo cũ cả về nội dung và hình thức, bảo đảm vừa phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, vừa kinh doanh có hiệu quả. Điều quyết định là phải giữ vững đoàn kết, nhất trí, phát huy mọi tiềm lực của mọi người nhằm mục tiêu “Năng suất, chất lượng, hiệu quả”.

Trên cơ sở những quan điểm và chủ trương đó, phát huy truyền thống tốt đẹp của mình, Nhà xuất bản đã bước vào thời kỳ đổi mới với nhiều cố gắng, đạt được những kết quả đáng tự hào, thực hiện tốt nhiệm vụ do Trung ương giao cho.

Về công tác biên tập, xuất bản:

Nhà xuất bản Sự thật luôn coi công tác biên tập, xuất bản là công tác trọng tâm, là nhân tố quyết định sự tồn tại của Nhà xuất bản. Được sự lãnh đạo sát sao của Ban Bí thư Trung ương Đảng, sự cộng tác tích cực và có hiệu quả của đội ngũ cộng tác viên cùng với sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, nhân viên, từ năm 1986 đến năm 1992, Nhà xuất bản Sự thật đã tổ chức biên tập và xuất bản được 480 đầu sách, gồm các sách kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, các văn kiện của Đảng và Nhà nước, sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, sách nghiên cứu và sách lý luận, chính trị phổ thông, sách về các vấn đề quốc tế... Bước đầu chuyển sang cơ chế mới, Nhà xuất bản thực hiện yêu cầu gắn sản xuất với tiêu thụ (chỉ đưa vào kế hoạch những đề tài có khả năng tiêu thụ được), số đầu sách có xu hướng giảm xuống. Nhưng từ năm 1988, số sách xuất bản bắt đầu tăng dần lên. Năm 1988 xuất bản 47 đầu sách; năm 1989 xuất bản 51 đầu sách; năm 1990 xuất bản 54 đầu sách; năm 1991 xuất bản 73 đầu sách...

Cùng với việc cố gắng nâng cao số lượng đầu sách, Nhà xuất bản đặc biệt chú ý nâng cao chất lượng sách. Về nội dung, các sách xuất bản trong thời kỳ này tập trung giới thiệu và làm sáng tỏ đường lối đổi mới toàn diện của Đảng do Đại hội lần thứ VI và lần thứ VII đề ra; làm sáng tỏ những vấn đề của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội và đặc biệt là con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng...; chống lại các tư tưởng và quan điểm phản động, lệch lạc, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng. Về hình thức, sách được trình bày và in đẹp hơn.

Trong thời gian này, Nhà xuất bản vẫn chú trọng việc xuất bản các tác phẩm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, coi đó là một trong các mảng sách chính. Sau khi hợp tác với Nhà xuất bản Tiến Bộ (Liên Xô) hoàn thành việc xuất bản bộ V.I. Lênin toàn tập bằng tiếng Việt (xuất bản lần thứ năm), Nhà xuất bản tập trung tổ chức dịch và xuất bản bộ C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập. Với sự hợp tác chặt chẽ của Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, đến cuối năm 1987, Nhà xuất bản đã xuất bản được bốn tập (từ tập 1 đến tập 4) của bộ sách này. Nhưng từ năm 1988, vì lý do tài chính, Nhà xuất bản Sự thật tạm dừng việc in bộ C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập trong khi vẫn chuẩn bị thật tốt việc dịch bộ sách này. Việc nghiên cứu các tác phẩm lớn của C. Mác, Ph. Ăngghen có thể dựa vào bộ C. Mác - Ph. Ăngghen tuyển tập gồm sáu tập và một cuốn mục lục tra cứu (sách hợp tác với Nhà xuất bản Đixơ, Cộng hòa Dân chủ Đức). Bên cạnh đó, Nhà xuất bản đã tăng cường xuất bản các sách lẻ của

C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin như: bộ Tư bản; Gia đình thần thánh; Về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản (gồm 2 tập),... Tại Hội nghị báo chí - xuất bản toàn quốc năm 1992 có sự tham dự của đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười và các đồng chí ủy viên Trung ương Đảng lãnh đạo công tác tư tưởng - văn hóa, đồng chí Giám đốc Nhà xuất bản đã trình bày tình hình, hoạt động của Nhà xuất bản Sự thật, đặc biệt là những khó khăn trong công tác xuất bản sách chính trị, nhất là việc phát hành sách chính trị nói chung và bộ C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập nói riêng, đồng thời đề nghị Nhà nước cấp kinh phí cho việc xuất bản bộ sách này. Sau Hội nghị, Ban Bí thư đã có quyết định về việc xuất bản bộ C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, quyết định thành lập Hội đồng biên tập, đồng thời cũng quyết định cấp kinh phí để xuất bản bộ sách này.

Cùng với việc xuất bản và chuẩn bị xuất bản các tác phẩm của C. Mác và Ph. Ăngghen, Nhà xuất bản còn tổ chức biên tập các sách giới thiệu thân thế, sự nghiệp cũng như những tư tưởng chính của các nhà kinh điển như: Chân dung một con người vĩ đại (viết về Các Mác), Cây vĩ cầm thứ hai (viết về Phriđrích Ăngghen). Năm 1987, Nhà xuất bản đã xuất bản cuốn C. Mác và Ph. Ăngghen về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản của R. Đlubếch và R. Mácken. Nhằm phục vụ công cuộc đổi mới về kinh tế, làm sáng tỏ những quan điểm của V.I. Lênin về chính sách kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản đã xuất bản hai cuốn sách nghiên cứu có giá trị: Chính sách kinh tế mới của Lênin và vận dụng vào điều kiện ở nước ta của Trần Ngọc Hiên (1989) và Chính sách kinh tế mới của Lênin và công cuộc đổi mới của chúng ta của Đào Xuân Sâm (1990). Hai cuốn sách này không chỉ trình bày nội dung chính sách kinh tế mới của V.I. Lênin, mà còn cố gắng dùng ánh sáng đó soi vào chính sách kinh tế của nước ta. Nhằm góp phần làm sáng tỏ nhận thức đúng về chủ nghĩa Mác - Lênin, tránh được cả hai xu hướng cực đoan là máy móc, giáo điều và phủ định sạch trơn, Nhà xuất bản đã xuất bản được một số đầu sách về vấn đề này, trong đó có cuốn sách Vận dụng triết học Mác - Lênin thế nào cho đúng của Trần Đức Thảo (1991).

Việc xuất bản những tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin cùng các sách nghiên cứu, giới thiệu tư tưởng của các nhà kinh điển là những cố gắng mới của Nhà xuất bản trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và đã thực sự góp phần vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở nước ta trong hoàn cảnh mới.

Các sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mảng sách được quan tâm đặc biệt. Thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW, ngày 7-1-1978 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, dưới sự chỉ đạo của Hội đồng xuất bản do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, Nhà xuất bản tập trung hoàn thành bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 1 của bộ sách được xuất bản năm 1980, nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Người. Nhờ sự cố gắng chung của Viện Mác - Lênin và Nhà xuất bản, bộ Hồ Chí Minh toàn tập gồm 10 tập đã ra mắt bạn đọc đúng dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người, như một bông hoa đẹp dâng lên vị lãnh tụ kính yêu của Đảng và dân tộc.

Trong bối cảnh chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội và đường lối cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đề ra bị kẻ thù ra sức xuyên tạc, bác bỏ, Đảng ta đang cụ thể hóa đường lối đổi mới, vạch ra con đường cụ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thì việc xuất bản toàn bộ di sản tư tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa hết sức to lớn đối với việc bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như việc xây dựng, hoạch định con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam. Bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập đáp ứng nguyện vọng tha thiết của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, nhất là các cán bộ muốn có toàn bộ nguyên tác của Người để nghiên cứu, học tập. Đó chính là kim chỉ nam cho sự nghiệp đổi mới đang diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

Cùng với việc tập trung xuất bản bộ Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản còn kịp thời xuất bản các tác phẩm lẻ của Người và các sách chuyên đề như: Những bài đăng trên báo Le Paria (Người cùng khổ); Con đường dẫn tôi tới chủ nghĩa Lênin (1987); Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1989); chuyên đề Con đường giải phóng (1990) - tập hợp những tư tưởng của Người về cách mạng giải phóng dân tộc; chuyên đề Đảng ta (1990) - tập hợp những ý kiến của Người và các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh về Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là những cuốn sách phổ thông, rất dễ hiểu đối với đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng, có nội dung sâu sắc và thiết thực trong việc xây dựng Đảng cũng như khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong tiến trình cách mạng của dân tộc. Năm 1988, nhằm phục vụ cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên, Nhà xuất bản đã xuất bản cuốn sách Về tư cách người đảng viên cộng sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là một cuốn sách quan trọng, định hướng việc tu dưỡng và nâng cao chất lượng đảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.

Thời kỳ này, Nhà xuất bản đã bắt đầu chuyển dần trọng tâm từ xuất bản các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh sang việc tổ chức biên tập và xuất bản các công trình nghiên cứu tư tưởng, thân thế, sự nghiệp của Người. Năm 1987, Nhà xuất bản tái bản cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp của Viện Lịch sử Đảng, một cuốn sách tiểu sử khá đầy đủ làm sáng tỏ toàn bộ quá trình hoạt động của Người, những cống hiến vĩ đại cùng những tư tưởng cách mạng sáng tạo của Người. Năm 1989, Nhà xuất bản hợp tác với Tỉnh ủy Nghệ - Tĩnh xuất bản cuốn sách Bác Hồ thời niên thiếu, tiếp đó xuất bản các cuốn sách Bác Hồ viết Di chúc; Hành trình cứu nước của Bác Hồ của Đức Vượng - Nguyễn Văn Khoan (1990).

Đặc biệt năm 1990, kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản đã cho ra mắt bạn đọc một loạt sách nghiên cứu có chất lượng cao về tư tưởng Hồ Chí Minh, tiêu biểu là các cuốn sách: Theo con đường Bác Hồ đã chọn; Bác Hồ sống mãi với non sông của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh; Hồ Chí Minh - Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp; Hồ Chí Minh - Quá khứ, hiện tại và tương lai của Thủ tướng Phạm Văn Đồng; Tư tưởng Bác Hồ soi sáng sự nghiệp đổi mới của chúng ta của Đại tướng Võ Nguyên Giáp... Đó là những cuốn sách đầu tiên nghiên cứu, giới thiệu một cách sâu sắc và toàn diện kho tàng tư tưởng phong phú của Người, có ý nghĩa đặc biệt trong việc vận dụng những tư tưởng đó vào giai đoạn mới của cách mạng.

Nhà xuất bản còn xuất bản các sách nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về từng lĩnh vực cụ thể trong đời sống kinh tế - xã hội như: Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề tài chính của Bộ Tài chính (1989); Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao của Viện Quan hệ quốc tế (1990); Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn hóa Việt Nam của Lê Xuân Vũ (1990); Nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chủ tịch về Nhà nước và pháp luật của Nguyễn Ngọc Minh (1990); Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục của nhiều tác giả (1991); Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh của Phạm Thành - Nguyễn Khắc Mai (1991); Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh của nhiều tác giả (1992); v.v..

Những cuốn sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng những sách nghiên cứu về tư tưởng của Người thật sự đã góp phần giúp độc giả thấy rõ sự sáng tạo của Người và Đảng ta trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh thực tiễn của đất nước, đề ra đường lối đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi ngày nay, góp phần làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dần dần giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội.

Trong những năm này, việc xuất bản các văn kiện của Đảng và Nhà nước được tiến hành khẩn trương, kịp thời và chính xác. Một điểm mới trong việc xuất bản các văn kiện Đảng thời kỳ này là sự phối hợp cộng tác chặt chẽ giữa Nhà xuất bản với Văn phòng Trung ương Đảng và Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, nhất là trong việc biên tập và đôn đốc in ấn. Nhờ đó, Nhà xuất bản đã xuất bản và phát hành kịp thời tất cả các văn kiện của Đại hội lần thứ VI, lần thứ VII và của các hội nghị Trung ương, góp phần đưa các nghị quyết đó đến đông đảo đảng viên và quần chúng, giúp người đọc có thể thấy được quá trình phát triển của đường lối, quan điểm của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới.

Cùng với việc xuất bản kịp thời các văn kiện của Đảng, các nghị quyết của Trung ương, Nhà xuất bản cũng quan tâm xuất bản sách của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, giải thích nội dung của các văn kiện dưới dạng sách nghiên cứu và sách phổ thông. Quán triệt chức năng, nhiệm vụ được giao, Nhà xuất bản đã chủ động bám sát quá trình chuẩn bị các đại hội và hội nghị Trung ương để nhanh chóng có sách xuất bản về các hội nghị do các đồng chí lãnh đạo viết. Năm 1987, ngay sau Đại hội lần thứ VI, Nhà xuất bản đã xuất bản một loạt sách làm sáng tỏ nội dung các quan điểm và đường lối đổi mới, đặc biệt là đổi mới về kinh tế. Tiêu biểu là các cuốn sách: Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và của thời đại của đồng chí Trường Chinh; Đổi mới sâu sắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực hoạt động; Đổi mới tư duy và phong cách của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh; Bàn về đổi mới tư duy của đồng chí Đào Duy Tùng... Các sách này đã làm sáng tỏ một loạt vấn đề đặt ra lúc đó như: Vì sao đổi mới trở thành yêu cầu sống còn đối với dân tộc? Vì sao phải đổi mới toàn diện mà trọng tâm là đổi mới về kinh tế? Vì sao đổi mới tư duy là yêu cầu đầu tiên, là tiền đề để đổi mới thành công? Nội dung của đổi mới từng lĩnh vực như thế nào?... Có thể nói, các cuốn sách này trở thành cẩm nang cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta nắm được đường lối, các quan điểm đổi mới của Đảng và vận dụng vào thực tiễn cụ thể ở các cấp, các ngành và từng địa phương.

Ngay sau Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương (khóa VI) (tháng 4-1987) bàn về chuyên đề lưu thông, phân phối, Nhà xuất bản đã cho ra mắt cuốn sách Những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Trên tinh thần của Hội nghị Trung ương 2 (khóa VI), cuốn sách đã đánh giá một cách toàn diện tình hình lưu thông, phân phối của ta lúc bấy giờ, làm sáng tỏ những phương hướng giải quyết vấn đề giảm bội chi ngân sách, giảm nhịp độ tăng giá, nhịp độ lạm phát, trên cơ sở đó xoá bỏ chế độ bao cấp, đặc biệt là chủ trương thực hiện chính sách thu mua nông sản của nông dân theo giá thỏa thuận. Có thể nói, đây là điểm đột phá quan trọng vào việc loại bỏ chính sách hai giá, thực hiện một giá thu mua nông sản.

Cơ chế quản lý kinh tế cũng là một vấn đề bức xúc lúc bấy giờ. Nhằm tìm ra một cơ chế quản lý kinh tế mới, tháng 8-1987, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VI đã họp bàn về vấn đề chuyển hoạt động của các đơn vị quốc doanh sang kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý kinh tế. Sau Hội nghị, Nhà xuất bản đã xuất bản cuốn sách Những vấn đề cơ bản trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta của đồng chí Võ Chí Công (1989). Cuốn sách phân tích sâu sắc những hậu quả của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, vạch ra những phương hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế nước ta lúc đó, tiến hành kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, sử dụng đúng đắn các quan hệ hàng hóa - tiền tệ.

Năm 1989, sau Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI tổng kết hai năm đổi mới và đề ra nhiệm vụ cho thời gian tới, Nhà xuất bản đã xuất bản cuốn Cuộc sống khẳng định và phát triển đường lối đổi mới của đồng chí Đỗ Mười, trong đó đánh giá một cách khách quan những thành tựu đã đạt được, đồng thời chỉ ra những tồn tại và những việc phải làm nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới.

Các đề tài về Đảng và xây dựng Đảng, công tác quần chúng cũng được chú ý khai thác và xuất bản. Năm 1990, nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Đảng, Nhà xuất bản cho ra mắt bạn đọc cuốn sách Diễn văn tại Lễ kỷ niệm lần thứ 60 Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, khẳng định những thành tựu cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình cách mạng, đồng thời nêu lên những nhiệm vụ nặng nề của Đảng trong sự nghiệp đổi mới... Sau Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (1990) bàn về công tác quần chúng, nhằm làm sáng tỏ bài học “lấy dân làm gốc” và nhiệm vụ công tác quần chúng trong điều kiện mới, Nhà xuất bản đã xuất bản hai cuốn sách: Đổi mới công tác quần chúng của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1991) và Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân của Vũ Oanh (1991).

Các đề tài về vấn đề Nhà nước của dân, do dân và vì dân cũng được quan tâm nhiều trong những năm này. Năm 1991, Nhà xuất bản đã xuất bản cuốn sách có tính chất tổng kết Xây dựng nhà nước của nhân dân - Thành tựu, kinh nghiệm đổi mới của đồng chí Đỗ Mười, trong đó có tổng kết hoạt động của Nhà nước và đặc biệt đã vạch ra phương hướng đổi mới hoạt động của Nhà nước trong những năm trước mắt. Năm 1992, nhân dịp Quốc hội thông qua Hiến pháp mới, Nhà xuất bản đã phát hành một loạt sách nói về xây dựng và hoạt động của chính quyền như: Sửa đổi Hiến pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới; Phát huy vai trò của Quốc hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân của đồng chí Đỗ Mười; Tăng cường quyền lực nhà nước của nhân dân, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới của đồng chí Võ Chí Công.

Có thể nói, hầu hết các bài nói và viết của các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đặc biệt của đồng chí Tổng Bí thư đều được xuất bản kịp thời nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị, tư tưởng của Đảng; đó là kho tàng quý báu để đảng viên và nhân dân tìm hiểu đường lối cách mạng của Đảng, đồng thời cũng là mảng sách quan trọng mà Nhà xuất bản luôn cố gắng hoàn thành.

Bên cạnh đó, Nhà xuất bản còn tổ chức tuyển chọn những tác phẩm chính của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước để in thành các tuyển tập. Sau khi xuất bản tuyển tập của các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, từ năm 1988, Nhà xuất bản đã xuất bản bốn tập của bộ sách Đổi mới để tiến lên của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Các tập sách này bao gồm những bài nói và viết quan trọng về đường lối đổi mới của đồng chí với cương vị Tổng Bí thư. Năm 1992 bắt đầu xuất bản tập 1 của bộ tuyển tập Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội của Tổng Bí thư Đỗ Mười. Các tập tiếp theo của bộ sách này được xuất bản tiếp trong các năm sau đó. Các tuyển tập của các đồng chí Tổng Bí thư là những tài sản quý báu của Đảng, phản ánh sinh động quá trình hình thành và phát triển các quan điểm, đường lối, chính sách và trí tuệ của Đảng. Đó là những bộ sách quan trọng trong việc chỉ đạo các hoạt động cách mạng cũng như nghiên cứu lịch sử Đảng.

Cùng với việc xuất bản các văn kiện của Đảng, Nhà xuất bản cũng chú trọng biên tập và xuất bản các văn kiện của Nhà nước và của các đoàn thể. Năm 1987, Nhà xuất bản đã xuất bản cuốn sách Văn bản của Đảng và Nhà nước về chính quyền huyện, xã và các cấp tương đương; năm 1988, xuất bản các văn kiện Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam; Quy chế về tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp, đặc biệt là Quyết định số 217/HĐBT và hướng dẫn thực hiện, một văn bản thể chế hóa các quan điểm của Nhà nước về đổi mới quản lý kinh tế, có tác động sâu rộng đến nền kinh tế nước ta lúc đó. Nhằm hướng dẫn thực hiện cơ chế quản lý kinh tế mới, năm 1989, Nhà xuất bản cho ra mắt bạn đọc các cuốn sách: Điều lệ liên hiệp xí nghiệp - Điều lệ xí nghiệp liên doanh - Quy định về liên kết kinh tế; Hướng dẫn thực hiện chính sách đối với kinh tế cá thể, tư doanh, tập thể và gia đình; Điều lệ mẫu hợp tác xã sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, vận tải, xây dựng. Năm 1990, xuất bản cuốn sách Những quy định mới sửa đổi và bổ sung Quyết định số 217/HĐBT. Năm 1992, xuất bản cuốn sách Một số văn kiện về chính sách dân tộc miền núi của Đảng và Nhà nước; sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp mới, Nhà xuất bản đã nhanh chóng in và phát hành rộng r•i Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và sau đó ít lâu xuất bản các cuốn sách nghiên cứu về Hiến pháp như: Bình luận khoa học Hiến pháp 1992; Tìm hiểu nội dung Hiến pháp 1992. Bên cạnh đó, Nhà xuất bản Sự thật cũng đã cố gắng xuất bản kịp thời một số văn kiện và sách nghiên cứu, sách phổ thông về pháp luật, tiêu biểu là các cuốn sách: Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự (1989); Những điều cần biết trong pháp luật hình sự (1990); Tìm hiểu Luật tổ chức Quốc hội (1992); Những điều cần biết trong pháp luật Luật dân sự (1992); Tìm hiểu pháp luật về chống tham nhũng, lợi dụng chức vụ xâm phạm lợi ích Nhà nước và quyền lợi công dân (1992); Khắc phục những sơ hở trong cơ chế quản lý kinh tế - Một giải pháp chủ động ngăn chặn tham nhũng (1992); Trách nhiệm và quyền lợi của công nhân viên chức (Tuyển chọn và hệ thống hóa các văn bản pháp quy) (1992)...

Những sách văn kiện của Đảng và Nhà nước cùng các sách giới thiệu các văn kiện, đặc biệt là sách của các đồng chí lãnh đạo đã cung cấp cho bạn đọc hệ thống đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của nhân dân ta nhằm đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới.

Việc tổ chức biên tập và xuất bản mảng sách nghiên cứu và chính trị phổ thông là thế mạnh và cũng là lĩnh vực Nhà xuất bản đã có nhiều kinh nghiệm. Nhưng việc biên tập và xuất bản mảng sách này là công việc khá khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều sáng kiến và tính chủ động để đáp ứng những yêu cầu bức xúc của công cuộc đổi mới. Yêu cầu đặt ra là sách được xuất bản không chỉ giải thích đường lối, quan điểm đã hình thành của Đảng, mà còn phải qua nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn nhằm đóng góp ý kiến vào việc hoạch định đường lối, quan điểm, chính sách mới của Đảng. Nhận rõ trách nhiệm đó, khi bước vào giai đoạn mới, Nhà xuất bản đã chú ý tăng cường lực lượng và chỉ đạo sát sao việc biên tập và xuất bản mảng sách này. Phương hướng chung là bám sát đường lối, quan điểm của Đảng, quan hệ chặt chẽ với các trung tâm nghiên cứu của Đảng và Nhà nước, mở rộng đội ngũ cộng tác viên, đặc biệt là các đồng chí ở các cơ quan tham mưu và xây dựng chính sách, chủ động tổ chức biên tập và xuất bản sách góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chính trị theo đúng chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối, quan điểm cách mạng của Đảng.

Sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, trong công tác tư tưởng nổi lên yêu cầu phải nhanh chóng giải thích cho đông đảo cán bộ, nhân dân hiểu rõ và nắm vững các quan điểm của Đại hội và các hội nghị Trung ương sau đó. Các cuốn sách đáp ứng yêu cầu này đề cập đến những vấn đề về cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế..., tiêu biểu có các cuốn sách: Đại hội VI - Những phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế của nhiều tác giả (1987); Nghiên cứu văn kiện Đại hội VI của nhiều tác giả (1988); Một số quan điểm kinh tế của Đại hội VI của Trần Đức Nguyên (1988)... Các cuốn sách này đã nêu những sai lầm của giai đoạn trước trong việc bố trí cơ cấu kinh tế như thiên về xây dựng công nghiệp nặng và những công trình quy mô lớn, không tập trung sức giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm, phát triển hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu...; trong việc cải tạo xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự nóng vội, muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành kinh tế quốc doanh, muốn tổ chức ngay các hợp tác xã quy mô lớn...; trong quản lý kinh tế đã duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp...; đồng thời trình bày sáng tỏ những quan điểm mới của Đại hội lần thứ VI của Đảng về các vấn đề nêu trên.

Năm 1989, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ sáu nhằm tổng kết hai năm đổi mới và cụ thể hóa một số quan điểm của Đại hội lần thứ VI, đặc biệt là các vấn đề: nguyên tắc của đổi mới, cơ cấu kinh tế, các thành phần kinh tế, vấn đề hợp tác xã,... Sau Hội nghị Trung ương 6 (khóa VI), Nhà xuất bản đã xuất bản các cuốn sách: Nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khóa VI) thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất của Trần Đức Nguyên; Các thành phần kinh tế và cách mạng quan hệ sản xuất của Lê Xuân Tùng; Sự hình thành cơ cấu kinh tế trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ của Trần Ngọc Hiên. Các cuốn sách trên đã trình bày một loạt tư duy mới về kinh tế trong thời kỳ quá độ, làm sáng tỏ tính tất yếu của sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ, phê phán tư tưởng nóng vội muốn nhanh chóng xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế gọi là phi xã hội chủ nghĩa dẫn đến tình trạng sản xuất đình đốn, không phát huy được mọi năng lực sản xuất của xã hội. Hội nghị Trung ương 6 (khóa VI) còn đánh dấu một chuyển biến quan trọng trong quan niệm về hợp tác xã nông nghiệp và cơ chế quản lý trong nông nghiệp. Vấn đề này đã được đề cập trong hai cuốn sách của đồng chí Hữu Thọ: Đổi mới tư duy nông nghiệp phải thực sự là mặt trận kinh tế hàng đầu (1988) và Hoàn thiện khóan sản phẩm thực hiện hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa trong hợp tác xã nông nghiệp (1989).

Thời gian này, Nhà xuất bản cũng chú ý đến vấn đề lý luận kinh tế, đặc biệt là vấn đề quan hệ giữa kế hoạch và thị trường nổi lên như một trọng tâm nghiên cứu của các nhà kinh tế lúc đó. Nhà xuất bản đã cho ra mắt bạn đọc các cuốn sách Các hình thức kinh tế quá độ của Hồng Giao (1987); Kinh doanh xã hội chủ nghĩa - Một số vấn đề lý luận của nhiều tác giả (1987), đặc biệt cuốn Trao đổi ý kiến - Những vấn đề lý luận và thực tiễn - kế hoạch hóa chương trình quan hệ thị trường của nhiều tác giả (1991); Kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế thị trường của Đào Xuân Sâm - Ngô Quang Minh (1992); Nền kinh tế thị trường xã hội - Một chế độ kinh tế cho các nước đang phát triển của nhiều tác giả (1992). Sách nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp có các cuốn: Lý luận về hợp tác hóa - Kinh nghiệm lịch sử và sự vận dụng ở nước ta của nhiều tác giả (1991); Hợp tác hóa nông nghiệp Việt Nam - Lịch sử - vấn đề - triển vọng của nhiều tác giả (1992). Đó là những cố gắng đầu tiên nhằm tổng kết hoạt động của các hợp tác xã theo mô hình cũ và nêu ra phương hướng cải tiến hợp tác xã theo tinh thần đổi mới của Hội nghị Trung ương 6 (khóa VI).

Khi chuyển sang cơ chế thị trường, trong xã hội đã xuất hiện nhiều tệ nạn, trong đó đặc biệt là nạn tham nhũng. Nhằm góp phần ngăn chặn tệ nạn này, năm 1992, Nhà xuất bản đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách Khắc phục những sơ hở trong cơ chế quản lý kinh tế - Một giải pháp chủ động ngăn chặn tham nhũng của Phạm Quang Lê.

Bên cạnh việc xuất bản các sách lý luận chung về kinh tế, Nhà xuất bản đã chú ý đến việc xuất bản các sách giới thiệu những điển hình xây dựng kinh tế ở các cơ sở và các địa phương, tiêu biểu có các cuốn sách: Đổi mới công tác thương nghiệp của Hoàng Minh Thắng (1988); Định hướng đổi mới kinh tế - xã hội nông thôn Thanh Hóa của Tỉnh ủy Thanh Hóa (1992); Bình Định đổi mới kinh tế - xã hội ở nông thôn của nhiều tác giả (1991); Quảng Ninh - Tiềm năng và triển vọng của nhiều tác giả (1991); v.v..

Ngoài ra, Nhà xuất bản đã xuất bản một số sách kiến thức phổ thông về kinh tế như: Tìm hiểu Điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh của Vũ Huy Từ - Nguyễn Thi (1989); Tìm hiểu công ty cổ phần và cổ phần hóa một số doanh nghiệp nhà nước của nhiều tác giả (1992); Từ điển quản lý kinh tế (sách dịch của R.A. Bêliuxốp - A.D. Xêledơnốp); v.v..

Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu cùng với sự xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch ở nước ngoài đã tác động không nhỏ đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Trên lĩnh vực tư tưởng đã xuất hiện những quan điểm lệch lạc về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội, về Đảng và công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Nhằm góp phần vào cuộc đấu tranh tư tưởng này, Nhà xuất bản đã xuất bản một loạt sách nhằm khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng của Đảng, là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng nước ta và thế giới, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong cách mạng, khẳng định các quan điểm và các nguyên tắc xây dựng Đảng,... Về chủ nghĩa Mác - Lênin có các cuốn sách: Học thuyết Mác - Lênin và thời cuộc của nhiều tác giả (1991); Thời đại và thích nghi của Trần Xuân Trường (1991); Chủ nghĩa xã hội là gì? của Trịnh Quốc Tuấn - Phạm Ngọc Quang (1991); Bảo vệ lý tưởng xã hội chủ nghĩa của nhiều tác giả (1991); Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa của Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo (1991); Chủ nghĩa xã hội dân chủ - Huyền thoại và bi kịch của Hoàng Chí Bảo - Nguyễn Thanh Tuấn - Nguyễn Lam Sơn (1991). Về xây dựng Đảng có các cuốn sách: Đảng trong sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội của nhiều tác giả (1990); Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị của Trần Đình Huỳnh - Mạch Quang Thắng (1991); Nguyên tắc tập trung dân chủ phải chăng đã lỗi thời của Nguyễn Phú Trọng (1991); Chủ nghĩa đa nguyên - Vì sao không chấp nhận? của Phúc Khánh (1990). Đặc biệt, năm 1992 đã xuất bản cuốn sách Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay của nhiều tác giả, trong đó có in toàn văn nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác lý luận và tham luận của một số nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nhà khoa học có tên tuổi. Tuy quy mô không lớn nhưng cuốn sách đề cập một cách súc tích những yếu kém của công tác lý luận thời gian qua và vạch ra phương hướng, nhiệm vụ nhằm khắc phục tình trạng lạc hậu của công tác này, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp đổi mới của Đảng.

Nhằm góp phần vạch trần âm mưu của các thế lực đế quốc và phản động hòng làm tan rã các nước xã hội chủ nghĩa và các phong trào cách mạng, đặc biệt là âm mưu “diễn biến hòa bình”, Nhà xuất bản đã xuất bản các cuốn sách: Cảnh giác với chiến lược “vượt trên ngăn chặn” của Lê Bá Thuyên (1991); Bảo vệ an ninh chính trị và tư tưởng trong giai đoạn hiện nay của Nguyễn Quang Phòng (1991); Bảo vệ an ninh quốc gia trong thời kỳ mới của Trần Đông (1987).

Với tinh thần đổi mới của các Đại hội lần thứ VI, lần thứ VII và các hội nghị Trung ương sau đó, nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất bản đã cho ra mắt bạn đọc một loạt sách với tiêu đề chung là Trao đổi ý kiến - Những vấn đề lý luận của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong lúc một số vấn đề lý luận của chủ nghĩa xã hội chưa được sáng tỏ, chưa đi đến kết luận cuối cùng, thì những cuốn sách này có tác dụng khơi dậy sự suy nghĩ sáng tạo của các nhà nghiên cứu, qua đó góp phần làm sáng tỏ nhiều quan điểm lý luận của Đảng, gợi mở nhiều ý kiến về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Với mục đích bảo vệ và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin trong hoàn cảnh mới, các tác giả đã mạnh dạn đưa ra những ý kiến, những tìm tòi riêng về các vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội, được các nhà lãnh đạo và nhất là các nhà nghiên cứu hết sức quan tâm và tham gia. Năm 1988, Nhà xuất bản xuất bản bộ sách: Trao đổi ý kiến - Những vấn đề lý luận của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (tập 1); năm 1989, xuất bản tập 2 - Cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại và công nghiệp hóa; tập 3 - Chính sách xã hội và hệ thống chính trị; năm 1990, xuất bản tập 4 - Chủ nghĩa xã hội và nhân quyền; tập 5 - Mấy vấn đề của chủ nghĩa xã hội hiện nay. Năm 1991, Nhà xuất bản xuất bản các cuốn sách: Trao đổi ý kiến - Kế hoạch hóa chương trình quan hệ thị trường; Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở Việt Nam; Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới; năm 1992, xuất bản các cuốn sách: Trao đổi ý kiến - Đổi mới kinh tế quốc doanh; Một số đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại.

Nhà xuất bản Sự thật cũng chú ý các mảng sách về lịch sử, văn hóa, khoa học, đặc biệt là lịch sử Đảng và tiểu sử các nhà lãnh đạo của Đảng. Ngay sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nhà xuất bản đã bắt tay vào việc tổ chức biên tập và xuất bản các sách tổng kết cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, tiêu biểu có các cuốn sách: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1988); Một số vấn đề tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự của Lê Đức Thọ (1989); Bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ của Văn Tiến Dũng (1989); Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1990); Việt Nam - 45 năm chiến đấu xây dựng và đổi mới của Bùi Đình Thanh (1990); Cuộc kháng chiến chống Mỹ toàn thắng của Văn Tiến Dũng (1991)... Các cuốn sách có tác dụng giáo dục truyền thống cách mạng cũng đã được xuất bản như: Mặt trận Việt Minh của Nguyễn Thành (1991); Nhà tù Côn Đảo 1945 - 1954 của Ban Chấp hành Đảng bộ Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo (1991); Lịch sử Nhà đày Buôn Ma Thuột (1930 - 1945) của Tỉnh ủy Đắk Lắk - Viện Lịch sử Đảng (1991); Việt Nam - Đất nước, lịch sử, văn hóa của nhiều tác giả (1991). Nhà xuất bản cũng tổ chức dịch và xuất bản sách của tác giả nước ngoài viết về cuộc kháng chiến của ta như cuốn sách Việt Nam - Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày của Maicơn Máclia (1991).

Tiếp tục thực hiện chủ trương xuất bản các hồi ký cách mạng và tiểu sử các lãnh tụ cách mạng, trong thời gian này Nhà xuất bản đã xuất bản các cuốn sách: Đồng chí Trường Chinh của Hoàng Tùng - Đức Vượng (1990); Trường Chinh - Người con của quê hương của Đức Vượng - Nguyễn Văn Khoan (1991); Đồng chí Lê Hồng Phong (1902 - 1942) của Nguyễn Thanh Tâm (1989); Đồng chí Nguyễn Phong Sắc của Thế Lập - Đức Vượng (1990); Bác Tôn - Cuộc đời và sự nghiệp (1888 - 1980) của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang (1988)...

Những sách nghiên cứu và phổ thông chính trị nói trên đã góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của xã hội, sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin, về tư tưởng Hồ Chí Minh, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, cung cấp thêm nhiều kiến thức về chính trị bổ ích cần thiết.

Xuất bản sách về các vấn đề quốc tế là một trong những nhiệm vụ chính của Nhà xuất bản. Các đề tài sách quốc tế thời kỳ này tập trung làm rõ một số vấn đề mới nảy sinh. Sau một thời kỳ phát triển, cuối những năm 70 của thế kỷ XX, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu rơi vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, nhiều nước tiến hành cải tổ toàn diện nhằm thóat ra khỏi khủng hoảng. Tuy nhiên, đường lối, chủ trương cải tổ của nhiều nước lại phạm sai lầm, xa rời các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, khiến cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng dẫn tới sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Cuộc cải tổ ở Liên Xô là một sự kiện lớn, thu hút sự chú ý của rất nhiều người, tác động khá sâu sắc đến tình hình nước ta, Nhà xuất bản đã tổ chức dịch và xuất bản một số văn kiện và sách của những nhà lãnh đạo Liên Xô lúc đó nhằm cung cấp tài liệu tham khảo để tìm hiểu công cuộc cải tổ ở Liên Xô, đặc biệt là cải tổ về kinh tế: Năm 1987, đã xuất bản văn kiện của Đảng Cộng sản Liên Xô: Về cuộc cải tổ và chính sách cán bộ của Đảng; Cải tổ - Sự nghiệp cách mạng cấp bách; Cải tổ căn bản công tác quản lý kinh tế; năm 1988, xuất bản văn kiện Hội nghị toàn Liên bang lần thứ XIX Đảng Cộng sản Liên Xô; Cải tổ và tư duy mới đối với nước ta và thế giới...

Thời kỳ này, Nhà xuất bản vẫn tiếp tục xuất bản sách giới thiệu về các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản và công nhân các nước như: Đại hội IV Đảng Nhân dân cách mạng Lào; Đại hội III Đảng Cộng sản Cu Ba; Đại hội XIII Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Hunggari; Đại hội XI Đảng XÃ hội chủ nghĩa thống nhất Đức; Đại hội XIX Đảng Nhân dân cách mạng Mông Cổ; Đại hội X Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan.

Trong khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khủng hoảng và sụp đổ thì công cuộc cải cách và mở cửa ở Trung Quốc lại thành công, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Quan hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước Việt Nam, Trung Quốc từng bước được khôi phục, bình thường hóa. Trong bối cảnh đó, được sự đồng ý của Ban Bí thư, Nhà xuất bản Sự thật đã chủ động đặt vấn đề khôi phục quan hệ hợp tác hữu nghị với Nhà xuất bản Nhân dân của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1992, theo lời mời của Nhà xuất bản Nhân dân của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nhà xuất bản Sự thật cử một đoàn đại biểu do Giám đốc Nhà xuất bản dẫn đầu đi thăm và trao đổi kinh nghiệm, chính thức khôi phục quan hệ giữa hai nhà xuất bản, thỏa thuận hằng năm sẽ có cuộc thăm và trao đổi kinh nghiệm lần lượt ở Hà Nội và Bắc Kinh, và mỗi bên có thể dịch và xuất bản của bên kia mà không phải trả tiền bản quyền tác giả. Nhằm giúp bạn đọc Việt Nam có tài liệu để tìm hiểu về cuộc cải cách của Trung Quốc, Nhà xuất bản Sự thật đã tổ chức dịch và biên soạn một số sách của Trung Quốc như: Trung Quốc sau hơn 10 năm cải cách của nhiều tác giả (1991); Những vấn đề lý luận của cải cách kinh tế ở Trung Quốc của nhiều tác giả (1991); Thành phố mở cửa (Lý luận và thực tiễn cải cách thể chế kinh tế ở Trung Quốc) (bản dịch của Thái Văn Long - Cốc Thư Đường) (1991); Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc (1992); Một số nét về văn hóa Trung Quốc của Lê Giảng (1992). Những cuốn sách này đề cập nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của cuộc cải cách ở Trung Quốc mà các nhà lãnh đạo và cán bộ nghiên cứu ở nước ta rất quan tâm, không những đáp ứng yêu cầu của độc giả muốn nghiên cứu cuộc cải cách của Trung Quốc mà còn góp phần củng cố quan hệ hữu nghị của hai nước và hai Đảng.

Mảng sách về các nước tư bản chủ nghĩa của Nhà xuất bản thời gian này tuy không nhiều nhưng đã đề cập những vấn đề bức xúc nhất. Trước hết, đó là các sách viết về chiến lược mới của Mỹ như: Về chiến lược quân sự toàn cầu của đế quốc Mỹ của Nguyễn Anh Dũng (1990); Cảnh giác với chiến lược “Vượt trên ngăn chặn” của Lê Bá Thuyên; Còn hay không còn chủ nghĩa thực dân của Phan Lang (1991); Khủng hoảng kinh tế - Căn bệnh kinh niên của chủ nghĩa tư bản (sách dịch).

Với chủ trương mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế và tham khảo kinh nghiệm xây dựng kinh tế của các nước, nhất là các nước có xuất phát điểm giống nước ta, Nhà xuất bản đã chú ý giới thiệu những sách về các nước có nền kinh tế phát triển nhanh, tiêu biểu là các cuốn sách: Nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản của Chu Hữu Quý - Trần An Phong - Đoàn Ngọc Cảnh (1991); Vài suy ngẫm về sự “thần kỳ” Nhật Bản của Đào Huy Ngọc (1992); Tuyển chọn và quản lý công nhân viên chức ở Nhật Bản của L.D. Lađanốp - V.A. Prônicốp (1991); Thái Lan - Cuộc hành trình tới câu lạc bộ các nước công nghiệp mới của Nguyễn Thu Mỹ - Đặng Bích Hà (1992)...

Mảng sách về các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới, đặc biệt về các nước trong khu vực được xuất bản nhiều hơn trước, đó là các cuốn sách: Các nước Đông Nam á - Lịch sử và hiện tại của Viện Đông Nam á (1990); Các nước Nam Thái Bình Dương của GS. Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Kim - Phạm Quang Minh (1992); Cộng hòa nhân dân Campuchia mười năm bảo vệ và xây dựng của Phạm Thành - Sĩ Tuấn (1989); Các nước trên thế giới của nhiều tác giả (1990); Danh từ chính trị quốc tế của nhiều tác giả (1990); Từ điển tri thức lịch sử thế giới (cận đại và hiện đại) do Nguyễn Anh Thái chủ biên; Các tri thức cần biết về thế giới (lịch sử và địa lý) của nhiều tác giả...

Thời kỳ này, nhất là những năm chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu còn tồn tại, Nhà xuất bản vẫn duy trì quan hệ bình thường với các nhà xuất bản của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Hằng năm, Nhà xuất bản vẫn cử đoàn đại biểu đi thăm và trao đổi kinh nghiệm với một số nhà xuất bản bạn. Nhưng sự hợp tác lúc này bị hạn chế vì các nhà xuất bản này đã chuyển sang cơ chế thị trường. Riêng mối quan hệ với Nhà xuất bản của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thì ngày càng phát triển theo đúng tinh thần hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào. Ngoài việc trao đổi đều đặn các đoàn đại biểu hằng năm để trao đổi kinh nghiệm công tác, Nhà xuất bản còn hợp tác với bạn để xuất bản cuốn Từ điển Lào - Việt và tiếp tục dịch một số văn kiện của Đảng ta sang tiếng Lào để tặng bạn hoặc dịch một số văn kiện của Đảng Nhân dân cách mạng Lào sang tiếng Việt để phục vụ độc giả trong nước...

Như vậy, từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng đến năm 1992, trong điều kiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh từng bước chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, Nhà xuất bản đã cho ra mắt bạn đọc 480 đầu sách. Nhà xuất bản đã phát huy được truyền thống của mình, luôn luôn bám sát đường lối, quan điểm của Đảng, thực hiện nghiêm chỉnh các chức năng, nhiệm vụ của một nhà xuất bản chính trị của Đảng, cung cấp cho bạn đọc những ấn phẩm lành mạnh, bổ ích, góp phần truyền bá và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần nâng cao kiến thức về chính trị - xã hội cho đông đảo bạn đọc. Tuy còn hạn chế trong việc trình bày, in ấn sách, nhưng nội dung sách về cơ bản luôn trung thành với đường lối, quan điểm của Đảng, không có sai sót. Đạt được kết quả đó là nhờ Nhà xuất bản đã cố gắng từng bước đổi mới mọi hoạt động theo một phương hướng đúng đắn và tích cực.

Về hoạt động in, phát hành, tiêu thụ sách:

Bước vào thực hiện đường lối đổi mới, Nhà xuất bản đã xác định rằng xuất bản phẩm, nhất là xuất bản phẩm chính trị là một hàng hóa đặc biệt, một mặt có tính chất là hàng hóa như các hàng hóa khác, mặt khác còn có tính chất là một công cụ của công tác tư tưởng, vì vậy, việc sản xuất, kinh doanh của Nhà xuất bản chỉ là một phương tiện để đạt mục đích là phục vụ công tác tư tưởng của Đảng. Quan điểm chỉ đạo của Nhà xuất bản thời gian này là: “Cố gắng tổ chức sản xuất kinh doanh tốt, có hiệu quả để có thể lấy thu bù chi, nhưng nhiệm vụ chính trị phải được đặt lên trên hết”. Với tư tưởng chỉ đạo đó, Nhà xuất bản đã từng bước cải tiến tổ chức và đặc biệt là đổi mới phương thức hoạt động nhằm khắc phục khó khăn khi chuyển đổi cơ chế, nâng cao hiệu quả in, phát hành, tiêu thụ sách, đồng thời cải thiện đời sống cán bộ, nhân viên Nhà xuất bản.

Về việc tổ chức in: Trước đây, sách của Nhà xuất bản thường được in ở các nhà in lớn như Nhà in Tiến Bộ, Nhà in Thống Nhất, Nhà in Báo Nhân dân, Nhà in Trần Phú, Nhà in Liksin... Việc in sách đòi hỏi chi phí lớn, nhiều khi gặp khó khăn, bị động, nhất là khi phải in gấp, in đột xuất để kịp thời phục vụ nhiệm vụ chính trị. Trước tình hình đó, Ban Giám đốc đã quyết định dùng vốn của Nhà xuất bản xây dựng một xưởng in nhỏ để in những sách có số lượng ít, in đột xuất, in nội bộ, ngoài ra có thể in thuê một số sách và các ấn phẩm khác. Xưởng in được thành lập với hai máy in và các thiết bị phơi bản, đóng xén cùng hơn 10 công nhân nắm được kỹ thuật in. Nhờ có xưởng in, Nhà xuất bản đã tự in được nhiều sách, nhất là các sách đột xuất, khép kín được hai khâu quan trọng của Nhà xuất bản là biên tập và in, đồng thời tăng thêm doanh thu và góp phần cải thiện đời sống cán bộ, nhân viên.

Các phòng Tổ chức in, Mỹ thuật, Sửa bài vốn có nhiều kinh nghiệm và làm việc tích cực nên việc tổ chức in tiến triển thuận lợi, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ do cơ quan giao. Việc trình bày bìa vẫn giữ được truyền thống, nghiêm túc nhưng chưa có nhiều đổi mới, chất liệu giấy in và bìa còn nhiều hạn chế. Khâu sửa bài được thực hiện rất cẩn thận, hầu như không có sách nào phải đính chính, đặc biệt là các sách quan trọng. Từ năm 1986 đến khi hợp nhất bốn nhà xuất bản, Nhà xuất bản đã tổ chức in được 480 cuốn sách, trong đó có những bộ sách và cuốn sách lớn như: bộ C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, Hồ Chí Minh toàn tập, nhiều sách phải in đột xuất như các văn kiện Đại hội Đảng, văn kiện các hội nghị Trung ương, các sách kỷ niệm các ngày lễ lớn.

Khó khăn nổi bật của Nhà xuất bản là khâu tiêu thụ sách. Cơ quan phát hành chuyển sang hạch toán kinh doanh, không được Nhà nước bù lỗ khi sách bị ế đọng nên chỉ mua những sách dễ tiêu thụ, có khi chỉ nhận phát hành 10 bản/đầu sách, nhiều khi lại mua dưới hình thức ký gửi. Điều này đã làm cho công tác phát hành và sự phối hợp giữa công tác xuất bản với phát hành gặp khó khăn, cho nên Nhà xuất bản phải xoá nợ cho Cơ quan phát hành. Trước tình hình đó, Nhà xuất bản xác định việc tiêu thụ sách là công việc có ý nghĩa sống còn của Nhà xuất bản và quyết định bổ sung cán bộ có trình độ và nhanh nhạy cho bộ phận phát hành và chuyển Phòng Tuyên truyền thuộc bộ phận biên tập về bộ phận phát hành để gắn việc tuyên truyền với việc tiêu thụ sách. Song, việc nắm tình hình tiêu thụ sách lúc đó rất kém và để khắc phục tình trạng đó, Nhà xuất bản quyết định tổng kiểm kê toàn bộ sách tồn đọng, chọn ra những cuốn sách cũ không còn thích hợp, không tiêu thụ được thì tiến hành thanh lý, những cuốn còn thích hợp và có thể tiêu thụ được thì đẩy mạnh việc tuyên truyền và tiêu thụ để vừa đáp ứng yêu cầu của bạn đọc, vừa thu hồi được vốn cho Nhà xuất bản. Cùng với việc đổi mới tổ chức và phương thức làm việc của Phòng Tuyên truyền, công tác biên tập cũng từng bước được đổi mới bảo đảm có sách hay đáp ứng yêu cầu của người đọc, coi đó là điều kiện tiên quyết để đẩy mạnh việc tiêu thụ sách.

Nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sách và góp phần vào việc cải thiện đời sống cán bộ, Nhà xuất bản đã quyết định cải tạo một gara của cơ quan thành một cửa hàng sách nhỏ trong khuôn viên Nhà xuất bản. Lực lượng phụ trách công việc này là Phòng Phát hành và một số cán bộ biên tập theo phương thức luân phiên. Ngoài sách của Nhà xuất bản, cửa hàng này còn bán một số sách của các nhà xuất bản khác và một số văn hóa phẩm. Với phương thức này, Nhà xuất bản có thêm kênh bán lẻ, bên cạnh kênh bán buôn ngày càng mở rộng.

Nhận thấy khâu bán buôn vẫn là kênh tiêu thụ chính, Nhà xuất bản cố gắng dùng nhiều phương thức linh hoạt để mở rộng kênh tiêu thụ. Một trong những sáng kiến lúc đó là tiêu thụ sách thông qua cơ quan Đảng, cơ quan tuyên huấn, các trường Đảng... Sáng kiến này mở đầu từ việc phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng trong việc phân phát các văn kiện của Đảng, Nhà xuất bản giao toàn bộ số sách văn kiện cho Văn phòng Trung ương để gửi đến các tỉnh ủy, thành ủy trong cả nước. Từ đó, Nhà xuất bản đã mở rộng việc tiêu thụ sang các sách học tập chính trị thuộc hệ thống tuyên huấn và các sách giáo khoa Mác - Lênin trong các trường Đảng thông qua việc thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Trường Đảng Nguyễn ái Quốc. Theo phương thức này, Nhà xuất bản giao sách cho Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương để gửi về ban tuyên huấn các tỉnh ủy, thành ủy, giao sách cho Trường Đảng Nguyễn ái Quốc để phân phối cho học viên. Có thể nói, đó là những khách hàng lớn và lâu dài của Nhà xuất bản. Phương thức phát hành này đã được thực tiễn chứng minh là có hiệu quả và được phát huy cả trong những năm sau này.

Trong số các sách nói trên có nhiều cuốn in và tiêu thụ với số lượng lớn, tới hàng vạn bản như sách văn kiện của Đảng, sách giới thiệu các nghị quyết của Đảng, sách của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Tính chung, đã tiêu thụ được 70 - 80% số sách in ra trong năm đầu ra sách và đến năm thứ hai thì có thể tiêu thụ được 80 - 90%, nhiều cuốn tới 100% số bản in ra. Nhờ đó, số sách ế đọng trong kho giảm nhiều. Đó là một tiến bộ đáng kể, tuy nhiên vấn đề tiêu thụ sách vẫn là một trong những khó khăn phải tiếp tục khắc phục của Nhà xuất bản.

Bên cạnh đó, Nhà xuất bản còn cố gắng mở rộng các hoạt động phụ để tăng doanh thu. Ngoài việc tổ chức in thuê một số sách và văn hóa phẩm cho các cơ quan và các địa phương, tổ chức việc làm thêm ngoài giờ cho cán bộ, nhân viên (in thủ công các biên lai, dán lịch, xén bìa lịch...), Nhà xuất bản còn tổ chức một nhóm chuyên làm các loại lịch (lịch blốc, lịch tờ, sách lịch...) từ khâu biên tập nội dung, trình bày mỹ thuật, và quan trọng nhất là tổ chức in và tiêu thụ các loại lịch đó. Thời gian này, các nhà xuất bản đều chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh, nên có sự cạnh tranh khá gay gắt về đề tài sách, nhất là về các dịch vụ văn hóa như tổ chức xuất bản các loại lịch, song việc này lại chưa được tổ chức hợp lý. Cục Xuất bản chưa quản lý chặt chẽ số lượng lịch in ra mỗi năm của các nhà xuất bản. Công tác làm lịch của Nhà xuất bản Sự thật có năm đạt được những thắng lợi, nhưng cũng có những năm còn ế đọng khá nhiều do chưa nắm bắt được thị trường.

Bên cạnh việc làm lịch, Nhà xuất bản còn làm sách lịch (Almanach), cung cấp các kiến thức phổ thông về chính trị, văn hóa, xã hội như: Sách lịch Sự thật 1989, Sách lịch Sự thật 1990, Sách lịch Sự thật 1991, mỗi tập in với số lượng 1.000 bản. Đây là một cố gắng, tìm tòi trong cách đưa sách vào quần chúng, nhưng hiệu quả không cao.

Gắn bó chặt chẽ với hoạt động in, phát hành, tiêu thụ sách và có đóng góp quan trọng trong hoạt động này là Chi nhánh Nhà xuất bản tại Thành phố Hồ Chí Minh. Được thành lập ngay sau khi Thành phố được giải phóng ít lâu với gần 10 cán bộ, nhân viên nhưng Chi nhánh đã tổ chức in và tiêu thụ 30 - 40% tổng số sách của Nhà xuất bản. Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ chính là tổ chức in và phát hành sách theo sự chỉ đạo của Nhà xuất bản và tiêu thụ một số sách từ Nhà xuất bản gửi vào, Chi nhánh còn tổ chức một số hoạt động khác như tổ chức in sách và các ấn phẩm khác cho các cơ quan và địa phương ở phía Nam và đã bắt đầu phát hiện đề tài, tổ chức cộng tác viên và biên tập một số bản thảo gửi ra Nhà xuất bản duyệt. Một số sách do Chi nhánh biên tập đã được in và phát hành rộng r•i, đặc biệt là ở phía Nam. Chi nhánh không những liên hệ chặt chẽ với các cơ quan Đảng và chính quyền của Thành phố, với cơ sở II của Ban Tài chính - Quản trị Trung ương, mà còn mở rộng quan hệ với nhiều tỉnh ở miền Nam nhằm khai thác đề tài, tìm cộng tác viên và đặc biệt là để phát hành sách. Hằng năm, ngoài việc hoàn thành nhiệm vụ in và phát hành, Chi nhánh còn đóng góp đáng kể vào Quỹ đời sống của cơ quan.

Với những phương thức hoạt động linh hoạt nói trên, hoạt động in, phát hành, tiêu thụ sách của Nhà xuất bản tuy đã đạt được những kết quả đáng mừng. Sách in ra ngày càng nhiều hơn, số bản sách cũng tăng lên, đặc biệt in chính xác, kịp thời, trình bày bìa nghiêm túc, có một số sách đẹp. Việc tiêu thụ sách cũng có tiến bộ, nhiều sách được tiêu thụ hết, phải tái bản, in nối bản, số tồn đọng trong kho không nhiều như trước. Nhờ đó, hiệu quả kinh tế được nâng cao. Trong những năm này, Nhà xuất bản không những không phải xin tiền bù lỗ của Ban Tài chính - Quản trị Trung ương, mà hằng năm còn có phần nhỏ đóng góp vào quỹ Đảng.

Về công tác tổ chức và cán bộ, phương thức công tác:

ý thức được tầm quan trọng đặc biệt của công tác tổ chức bộ máy và cán bộ khi bước vào thời kỳ đổi mới, ngay sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, vấn đề xem xét lại bộ máy và sắp xếp lại cán bộ, nhân viên Nhà xuất bản đã được đặt ra.

Lúc này, bộ máy của Nhà xuất bản được xây dựng từ những năm trước vẫn tương đối đồng bộ và cơ bản phù hợp. Giúp việc Ban Lãnh đạo về mặt biên tập có Ban Biên tập Nhà xuất bản được thành lập từ năm 1982 ngang cấp vụ (các đơn vị biên tập lúc đó gọi là các tiểu ban biên tập ngang cấp phòng, đến năm 1985, các tiểu ban được nâng lên cấp vụ và gọi là Ban Biên tập, nhưng Ban Biên tập Nhà xuất bản lúc đầu vẫn giữ tên cũ). Ban Biên tập gồm một số đồng chí là trưởng tiểu ban biên tập: đồng chí Phạm Xuyên là ủy viên Thường trực, các đồng chí Nguyễn Phúc Khánh, Nguyễn Văn Vấn, Phạm Xuân Xứng, Trịnh Thúc Huỳnh, Trương Quang Cường và một số đồng chí đã chuyển công tác sang cơ quan khác... là ủy viên. Hoạt động của Ban Biên tập Nhà xuất bản được cải tiến. Vai trò và trách nhiệm của các ủy viên được nâng cao hơn. Các ủy viên phải tham gia các công việc chung, như xây dựng các kế hoạch biên tập, các chủ trương lớn về hoạt động biên tập, theo dõi hoạt động của các ban biên tập để đề xuất ý kiến với Tổng Biên tập, hoặc phụ trách mảng công việc theo sự phân công của Tổng Biên tập. Riêng đồng chí Trương Quang Cường là ủy viên Ban Biên tập Nhà xuất bản được phân công phụ trách Khối trị sự. Ban Biên tập lúc này còn là nơi rèn luyện và thử thách để bồi dưỡng cán bộ kế cận cho Ban Lãnh đạo cơ quan.

Tổ chức của Nhà xuất bản chia làm ba khối: Khối văn phòng phụ trách công việc hành chính do đồng chí Hoàng Trí phụ trách, gồm Phòng Hành chính, Phòng Kế hoạch, Phòng Tổ chức (sau này Vụ Tổ chức - Cán bộ trực thuộc Ban Giám đốc); Khối trị sự sau đó ít lâu đổi là Khối sản xuất, kinh doanh do đồng chí Trương Quang Cường phụ trách, gồm Phòng Tổ chức in, Phòng Mỹ thuật, Phòng Sửa bài, Phòng Tài vụ, Phòng Tuyên truyền, sau đó có thêm Xưởng in và Phòng Tài vụ chuyển sang trực thuộc Ban Giám đốc; khối biên tập lúc này có sáu ban biên tập (cấp vụ): Ban Biên tập sách kinh tế do đồng chí Nguyễn Văn Vấn làm Trưởng ban, Ban Biên tập sách lý luận do đồng chí Nguyễn Phúc Khánh làm Trưởng ban, Ban Biên tập sách quốc tế do đồng chí Phạm Xuân Xứng làm Trưởng ban, Ban Biên tập sách về Đảng do đồng chí Trịnh Thúc Huỳnh làm Trưởng ban, Ban Biên tập sách kinh điển do đồng chí Lê Xuân Tiềm làm Trưởng ban và Ban Biên tập văn kiện Đảng và sách Hồ Chí Minh do đồng chí Nguyễn Huy Diệu làm Trưởng ban. Năm 1982, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định chuyển hai ban biên tập Kinh điển và Văn kiện Đảng của Nhà xuất bản Sự thật sang Viện Mác - Lênin và đến năm 1987 lại trở về Nhà xuất bản. Còn Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị trực thuộc Ban Giám đốc.

Những đổi mới về mặt tổ chức thời kỳ này chủ yếu là ở Khối trị sự. Trước đây, công việc chính của Nhà xuất bản là tổ chức công tác biên tập để có bản thảo và tổ chức in các bản thảo đó thành sách và giao cho Cơ quan phát hành. Lúc này, khi chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh, cơ quan phát hành không còn được bù lỗ khi sách bị ế đọng, nên chỉ mua một số lượng rất nhỏ trong tổng số sách in ra của Nhà xuất bản. Trước tình hình đó, Nhà xuất bản phải trực tiếp tổ chức công tác tiêu thụ. Để đáp ứng tình hình mới, Nhà xuất bản đã tăng cường cán bộ và sắp xếp lại Khối trị sự với tên gọi mới là Khối sản xuất, kinh doanh đảm nhiệm việc tổ chức in và phát hành sách, lịch. Để tạo điều kiện cho Khối sản xuất, kinh doanh hoàn thành nhiệm vụ, cơ quan đã bổ sung cho Khối gần 10 cán bộ, nhân viên để lập Phòng Phát hành. Cơ quan chủ trương không tăng thêm biên chế nên phải rút cán bộ từ các ban biên tập. Lúc này, số lượng sách dịch từ tiếng Nga giảm nhiều nên phải giảm số cán bộ phiên dịch tiếng Nga - một số chuyển sang biên tập sách viết, một số được cử đi học tiếng Anh. Một số cán bộ biên tập không thích hợp với công tác biên tập, nhưng lại thích hợp với công tác sản xuất, kinh doanh đã được chuyển sang khối này. Bộ phận tuyên truyền trước thuộc Khối biên tập vừa làm công tác tuyên truyền, giới thiệu sách, vừa tổ chức biên tập nội dung lịch blốc, cũng được chuyển sang Khối sản xuất, kinh doanh để gắn việc tuyên truyền với việc tiêu thụ sách.

Biên chế Nhà xuất bản thời kỳ này khoảng 115 cán bộ, nhân viên. Với tinh thần giảm mọi chi phí, nhất là chi phí gián tiếp, Ban Giám đốc Nhà xuất bản quyết định trước mắt chưa tăng thêm biên chế, mà chủ yếu là sử dụng hợp lý và có hiệu quả số cán bộ, nhân viên hiện có. Bộ phận gián tiếp của Nhà xuất bản được gọn nhẹ tới mức tối đa. Vụ Tổ chức - Cán bộ và Phòng Kế hoạch mỗi đơn vị chỉ có hai người. Thể theo nguyện vọng của cán bộ và thực hiện đúng chế độ của Nhà nước, cơ quan tạo điều kiện cho các đồng chí đủ tuổi được nghỉ hưu. Kết quả là đến năm 1989, số lượng cán bộ, nhân viên đã giảm gần chục người, phần lớn là những cán bộ cốt cán, có nhiều đóng góp cho Nhà xuất bản nghỉ hưu. Trước tình hình đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã bổ nhiệm Ban Lãnh đạo mới của Nhà xuất bản: đồng chí Phạm Xuân Xứng là Giám đốc, đồng chí Nguyễn Phúc Khánh là Phó Giám đốc - Tổng Biên tập, đồng chí Trương Quang Cường là Phó Giám đốc.

Ngoài việc sắp xếp bộ máy, thời kỳ này Nhà xuất bản cũng có một số thay đổi về phương thức công tác, trước hết là thay đổi về công tác kế hoạch. Mỗi năm Nhà xuất bản đã xây dựng hai loại kế hoạch: kế hoạch đề tài biên tập, xuất bản và kế hoạch tài chính. Rút kinh nghiệm các năm trước, đặc biệt để gắn sách với người đọc, gắn sản xuất với tiêu thụ theo yêu cầu của cơ chế hạch toán kinh doanh, khi xây dựng kế hoạch hằng năm, Nhà xuất bản đã tổ chức tham khảo ý kiến của các đồng chí lãnh đạo, các chuyên gia, các cộng tác viên thuộc các lĩnh vực khác nhau, đã tổ chức các hội nghị cộng tác viên bao gồm các nhà nghiên cứu thuộc các viện, các trường, các ban, bộ. Trong quá trình xây dựng kế hoạch đề tài, Nhà xuất bản còn cử cán bộ về các địa phương, đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh để giới thiệu về Nhà xuất bản, đồng thời nắm bắt yêu cầu và khả năng cộng tác của địa phương. Xây dựng kế hoạch theo phương thức này, Nhà xuất bản đã cố gắng tính toán nhiều mặt, cả nhiệm vụ công tác tư tưởng do Trung ương vạch ra, cả khả năng nghiên cứu, sáng tác của cộng tác viên, cả yêu cầu và sức mua của độc giả (trước đây thường ít chú ý hoặc thậm chí không chú ý đến những vấn đề này). Nhờ đó, các sách xuất bản đáp ứng tốt hơn yêu cầu của công tác tư tưởng của Đảng cũng như của đông đảo độc giả. Tuy nhiên, hoạt động trong cơ chế thị trường, các kế hoạch hằng năm của Nhà xuất bản vẫn chưa thật sự vững chắc, trong quá trình thực hiện thường phải bổ sung các đề tài mới, có khi phải bổ sung và thay đổi tới 30 - 40%.

Trong thời kỳ này, công tác cộng tác viên cũng có một số cải tiến. ĐÃ có thời gian Nhà xuất bản chưa chú ý và chưa có điều kiện mở rộng đội ngũ cộng tác viên, cán bộ Nhà xuất bản tự dịch và viết sách (chủ yếu là sách phổ thông), có lúc lại quá nhấn mạnh vai trò của cộng tác viên, mọi việc đều dựa vào cộng tác viên, thậm chí khi bản thảo đưa in cũng phải có chữ ký của cộng tác viên. Cán bộ biên tập lúc đó chỉ có vai trò như một “con thoi”, người liên lạc giữa cộng tác viên và Nhà xuất bản. Để khắc phục tình trạng đó, Nhà xuất bản chủ trương phải tăng cường và mở rộng đội ngũ cộng tác viên của Nhà xuất bản, tổ chức các hội nghị cộng tác viên để tranh thủ ý kiến của cộng tác viên, khai thác tối đa năng lực cộng tác viên, coi đó là một nguyên nhân dẫn tới thành công của Nhà xuất bản, coi nhiệm vụ chính của biên tập viên là tổ chức cộng tác viên, chứ không phải là dịch và viết sách. Trước đây, mỗi ban biên tập chỉ bố trí từ một đến hai người chuyên làm công tác cộng tác viên, nay yêu cầu tất cả cán bộ biên tập đều phải làm công tác cộng tác viên, đều có các cộng tác viên của mình, coi đó là một tiêu chuẩn thi đua. Nhưng mặt khác, vai trò của biên tập viên cũng được xác định rõ và đề cao, biên tập viên không được ngồi chờ bản thảo tự đến, mà phải thật sự góp phần xây dựng nên tác phẩm, từ khâu đề xuất đề tài, làm đề cương, làm việc với cộng tác viên, đến khâu sửa chữa, hoàn chỉnh bản thảo, phải thật sự là “bà đỡ” của tác phẩm. Muốn làm được như vậy thì cán bộ biên tập phải có trình độ lý luận, nắm được đường lối, quan điểm của Đảng và bám sát thực tiễn, có kinh nghiệm biên tập và cả kinh nghiệm viết sách, cán bộ biên tập không phải là người viết sách, nhưng phải là người biết viết sách nếu muốn làm tốt nhiệm vụ của mình. Xuất phát từ quan điểm đó, một mặt cơ quan khuyến khích cán bộ biên tập mở rộng giao lưu, gặp gỡ các cơ quan, các nhà khoa học, các cán bộ có liên quan đến đề tài để mở rộng đội ngũ cộng tác viên; mặt khác khuyến khích cán bộ, đặc biệt là cán bộ biên tập tích cực học tập và phấn đấu có thể dịch sách, viết sách từ dễ đến khó. Nhiều cán bộ biên tập phấn đấu theo hướng đó đã tiến bộ nhanh chóng. Để có vốn làm sách và nhất là để tiêu thụ hết số sách in ra, Nhà xuất bản đã mở rộng hướng liên kết xuất bản và tiêu thụ sách; liên kết với các địa phương, các ngành, kể cả các tổ chức của nước ngoài để làm sách. Có trường hợp các đối tác chuẩn bị bản thảo giao cho Nhà xuất bản, cấp vốn (có khi cấp giấy in) và sau khi in xong sách thì nhận tổ chức tiêu thụ, phát hành số sách đó. Nhà xuất bản chịu trách nhiệm hoàn chỉnh và duyệt bản thảo, tổ chức in và giao sách cho đối tác. Nhờ áp dụng phương thức này, Nhà xuất bản đã xuất bản được một số sách có nội dung tốt như: liên kết với Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu xuất bản bộ sách Nhà tù Côn Đảo (gồm 3 tập); liên kết với Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Thanh Hóa xuất bản cuốn sách Định hướng đổi mới kinh tế - xã hội ở nông thôn Thanh Hóa; liên kết với H•ng Thông tấn Nôvôxti (Liên Xô) xuất bản một số sách viết về Đảng Cộng sản Liên Xô và đất nước Xôviết; liên kết với Đại sứ quán Pháp xuất bản cuốn sách Đại cách mạng Pháp năm 1789; liên kết với tổ chức Rađa Bácnen (Thụy Điển) xuất bản một loạt sách về quyền trẻ em... Có thể nói, đây là phương thức làm sách có hiệu quả cao về mặt kinh doanh, nhất là trong hoàn cảnh khó khăn lúc bấy giờ.

Cùng với việc sắp xếp bộ máy, bố trí cán bộ, cải tiến phương thức công tác, Nhà xuất bản cũng chú ý đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cả về mặt lý luận, nghiệp vụ, ngoại ngữ, phẩm chất. Nhà xuất bản đặt ra một số mục tiêu phấn đấu như: cán bộ lãnh đạo các ban biên tập phải có trình độ lý luận cao cấp, có trình độ trên đại học về chuyên môn; cán bộ lãnh đạo cấp phòng phải có trình độ đại học và trình độ lý luận trung cấp; cán bộ biên tập phải có trình độ đại học chuyên môn và phải qua lớp nghiệp vụ biên tập, xuất bản và sử dụng được ít nhất một ngoại ngữ... Để thực hiện được các mục tiêu này, Nhà xuất bản đã cử một số đồng chí đi học các lớp chuyên tu, nghiên cứu sinh, cử đi học và mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ biên tập, xuất bản tại cơ quan do Trường Tuyên huấn Trung ương giảng dạy, cho một số cán bộ đã biết tiếng Nga đi học thêm tiếng Anh, đồng thời mở lớp tiếng Anh ngay tại cơ quan để có thể thu hút nhiều người tham gia học.

Nghề biên tập - xuất bản là nghề chưa có giáo trình và trường lớp nào chỉ dẫn được tường tận, tỉ mỉ vì công việc phức tạp, muôn hình, muôn vẻ, các bản thảo có nội dung khác nhau, yêu cầu khác nhau, do những người khác nhau viết ra, v.v.. Xuất phát từ thực tế đó, Nhà xuất bản hết sức coi trọng việc tự học và học trong công tác. Nhà xuất bản yêu cầu cán bộ, nhất là cán bộ biên tập phải có kế hoạch học tập hằng năm, hằng quý (học cái gì?, tới trình độ nào?). Đặc biệt, Nhà xuất bản chú ý việc rút kinh nghiệm công tác, mỗi cán bộ biên tập, sau khi biên tập xong một bản thảo phải rút kinh nghiệm biên tập bản thảo đó và trình bày trước ban biên tập để tập thể học hỏi lẫn nhau. Cơ quan cũng khuyến khích cán bộ đi sâu vào từng lĩnh vực theo hướng chuyên môn hóa. Ví dụ: Ban Biên tập sách kinh tế thì chia ra nhóm tài chính, nhóm công nghiệp, nhóm nông nghiệp; Ban biên tập sách quốc tế thì chia ra nhóm về các nước xã hội chủ nghĩa, nhóm về phong trào giải phóng dân tộc, v.v..

Đặc biệt từ năm 1989, với chủ trương đưa công tác biên tập đi vào nền nếp, khoa học, sau nhiều lần thảo luận, Ban Lãnh đạo Nhà xuất bản đã xây dựng hai quy chế: Quy chế công tác biên tập vạch ra quy trình công tác biên tập từ khâu làm chủ trương kế hoạch, chọn cộng tác viên, đến sửa chữa, hoàn chỉnh bản thảo, làm hồ sơ bản thảo; Quy chế về định mức biên tập nêu ra số lượng trang bản thảo của từng loại sách (dịch dễ, dịch khó, sách nghiên cứu, sách phổ thông, sách sưu tầm) mà từng cán bộ phải thực hiện. Đây là một vấn đề mới và phức tạp nhưng rất cần thiết, để mỗi cán bộ có mức phấn đấu cụ thể và cơ quan có cơ sở để đánh giá việc thực hiện kế hoạch công tác của cán bộ. Tuy những quy chế còn có mặt hạn chế, nhưng ít nhiều đã có tác dụng thúc đẩy công tác và dần dần đưa công tác biên tập vào nền nếp hơn, kích thích cán bộ cố gắng làm nhiều và làm tốt hơn. Quy chế về công tác biên tập đã trở thành tài liệu nghiệp vụ mà bất cứ cán bộ nào khi chuyển về làm việc ở Nhà xuất bản đều phải nghiên cứu trước tiên.

Trong thời gian này, Nhà xuất bản rất khuyến khích cán bộ dịch và viết sách từ dễ đến khó, từ phỏng biên đến sáng tác, coi đó là một biện pháp luyện tay nghề cho cán bộ, làm cho cán bộ có thể nhanh chóng trưởng thành và cũng qua đó làm cho cán bộ yêu nghề, gắn bó với nghề, với Nhà xuất bản. Chủ trương này đã được một số cán bộ biên tập hoan nghênh và thực hiện có hiệu quả.

Về đời sống cán bộ, công nhân viên, nhìn chung đời sống của cán bộ, công nhân viên Nhà xuất bản thời kỳ này tuy có được cải thiện một phần cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhưng cũng còn rất nhiều khó khăn. Chủ trương của Nhà xuất bản là cố gắng thực hiện đầy đủ, đúng đắn mọi chế độ, chính sách về đời sống của Nhà nước theo hướng có lợi nhất cho cán bộ, công nhân viên của mình. Việc tăng lương hằng năm theo chỉ tiêu rất hạn chế, làm nảy sinh nhiều bất hợp lý trong tiền lương của cán bộ trong cơ quan. Nhiều cán bộ đã tiến vượt lên, hiệu quả công tác cao nhưng lương thấp. Trước tình hình đó, ngoài việc tăng lương theo chỉ tiêu cấp trên quy định hằng năm, Nhà xuất bản đã mạnh dạn có những điều chỉnh để giải quyết dần các bất hợp lý trong tiền lương. Thời kỳ này, do hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả nên hằng tháng cán bộ, công nhân viên đều có thu nhập thêm ngoài lương. Bên cạnh đó, Công đoàn cơ quan còn tổ chức cho cán bộ, công nhân viên làm ngoài giờ để có điều kiện tăng thêm thu nhập.

Vấn đề nổi lên trong đời sống cán bộ, công nhân viên Nhà xuất bản giai đoạn này là vấn đề nhà ở. Sau hơn 30 năm chuyển về làm việc ở Hà Nội, số lượng cán bộ, nhân viên từ hơn 10 người tăng lên hơn 100 người, trong khi đó Nhà xuất bản chỉ có một ngôi nhà tập thể ở số 91 phố Tuệ Tĩnh và hai lần được cấp thêm năm căn hộ tập thể. Do vậy, chỗ ở của anh chị em rất chật hẹp, khó khăn. Trước tình hình đó, Nhà xuất bản quyết định xin Ban Tài chính - Quản trị Trung ương kinh phí để tổ chức xây dựng một nhà tập thể mới và xác định đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Với những cố gắng của tập thể Ban Giám đốc và Văn phòng Nhà xuất bản, đầu năm 1992, ngôi nhà tập thể ở phường Cống Vị đã hoàn thành. Nhà xuất bản có thêm 40 căn hộ và gần 1.000m2 đất bên cạnh khu nhà, khắc phục được tình trạng thiếu nhà ở và tạo điều kiện cho cán bộ, công nhân viên yên tâm công tác.

Về công tác Đảng và các đoàn thể quần chúng, Đảng bộ luôn xác định nhiệm vụ chính trị của mình là lãnh đạo cơ quan hoàn thành tốt các kế hoạch biên tập, sản xuất, kinh doanh do cấp trên giao, đặc biệt là làm tốt công tác chính trị, tư tưởng để toàn Đảng bộ và cơ quan quán triệt và thực hiện nghiêm chỉnh các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các chủ trương của cơ quan, qua đó xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Ban Giám đốc tôn trọng sự lãnh đạo của Đảng ủy, sự phối hợp công tác giữa Đảng ủy và Ban Giám đốc rất chặt chẽ và có hiệu quả. Tất cả các chủ trương lớn của Ban Giám đốc đều được bàn bạc và nhất trí trong Đảng ủy, các chủ trương và quyết định của các đơn vị đều có ý kiến của chi bộ, chi ủy. Dân chủ trong cơ quan được tôn trọng và phát huy. Không khí đoàn kết, phấn khởi trong cơ quan được giữ vững. Đảng bộ luôn được công nhận là “Đảng bộ trong sạch, vững mạnh”.

Công đoàn cũng tham gia tích cực các hoạt động của cơ quan, đặc biệt là công tác thi đua và đời sống, động viên đoàn viên thi đua hoàn thành các kế hoạch, tham gia việc bình bầu thi đua, việc phân phối các quỹ phúc lợi. Công đoàn Nhà xuất bản luôn giữ được danh hiệu là “Công đoàn vững mạnh”.

Đoàn Thanh niên thực hiện tốt vai trò xung kích, đầu tàu trong các hoạt động của cơ quan, đặc biệt trong học tập, công tác và các hoạt động văn nghệ, thể thao nhiều năm liền được công nhận là đơn vị tiên tiến.

Trung đội tự vệ vẫn giữ được truyền thống “Đơn vị quyết thắng” trong nhiều năm từ khi còn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Hoạt động phối hợp nhịp nhàng theo những mục tiêu thống nhất của các tổ chức chính trị trong Nhà xuất bản chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới thành công của Nhà xuất bản thời kỳ này. Năm 1990, nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập, Nhà xuất bản vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương cao quý - Huân chương Hồ Chí Minh để ghi nhận những đóng góp của Nhà xuất bản vào việc tuyên truyền, phổ biến chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, cung cấp các kiến thức lý luận, chính trị cho đông đảo bạn đọc. Ngoài phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước dành cho tập thể Nhà xuất bản, nhiều cán bộ Nhà xuất bản được Đảng và Nhà nước tặng thưởng các huân chương cao quý như Huân chương Độc lập, Huân chương Kháng chiến, Huân chương, Huy chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và Bộ Văn hóa - Thông tin tặng Huy chương “Chiến sĩ văn hóa”...

Có thể nói, mặc dù gặp muôn vàn khó khăn trong những năm đầu đổi mới, song những thành tựu mà Nhà xuất bản Sự thật đã giành được trong thời kỳ này là rất cơ bản.

 Trích trong cuốn Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật

70 năm xây dựng và phát triển (1945 - 2015)