Trang chủ Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh Học phong cách làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Học phong cách làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận thiên tài, nhà văn hóa kiệt xuất, anh hùng giải phóng dân tộc. Cuộc đời và sự nghiệp của Người đã nêu tấm gương sáng về phong cách làm việc khoa học cho toàn Đảng, toàn quân cùng lớp lớp các thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo. Để góp phần thiết thực thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-2017), bài viết dưới đây giới thiệu một số nét trong phong cách làm việc khoa học của Người.

Từ khóa: tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, kỷ luật, sáng kiến, kinh nghiệm

Làm việc phải giữ nghiêm phép nước, kỷ cương, kỷ luật

Trong sự nghiệp lãnh đạo đất nư­ớc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân giữ gìn phép nước, kỷ cương, kỷ luật. Bởi vấn đề cơ bản của nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân là quyền lực thuộc về nhân dân. Người khẳng định: Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ cơ sở đến trung ương do dân cử ra; tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều thuộc về Nhân dân. Theo Người, nội dung quan trọng nhất của một đất nư­ớc khi có chính quyền là phải có nhà nước với hiệu lực pháp lý mạnh mẽ: “Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”. Vì thế, Người rất quan tâm đến phép nước, kỷ cương, kỷ luật.

hoc phong cach226

Ngay khi Cách mạng Tháng Tám thành công, n­ước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trên cương vị Chủ tịch Chính phủ lâm thời, Người nêu: “Chính phủ Cộng hòa Dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình”1. Cuối năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh Tổng tuyển cử trong cả nước, bầu ra Quốc hội lập hiến, thông qua Hiến pháp, rồi cùng Quốc hội bắt tay ngay vào việc chấn chỉnh bộ máy chính quyền các cấp. Trên cương vị người đứng đầu cơ quan lập pháp của nước Việt Nam mới, Người thẳng thắn chỉ ra “những lầm lỗi rất nặng” của một số người, trong đó có cả cán bộ, đảng viên, đó là các bệnh như trái phép, vô tổ chức, vô kỷ luật, cậy thế, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo, v.v.. Người tỏ thái độ nghiêm khắc: Ai đã phạm những lỗi lầm trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung. Người còn ký một loạt sắc lệnh như: Sắc lệnh ấn định hình phạt đối với ngư­ời đưa và người nhận hối lộ từ 5 đến 20 năm khổ sai và phải nộp phạt gấp đôi số tiền, tang vật nhận hối lộ, Sắc lệnh khép tội tham ô, trộm cắp của công vào tội tử hình... Tháng 1-1946, Người ban hành Quốc lệnh, trong đó ghi rõ: Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công. Vậy, Chính phủ ra Quốc lệnh rõ ràng gồm có 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt, cho quân dân biết rõ những tội nên tránh, những việc nên làm. Năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở những người làm công tác pháp luật rằng: Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” cho nhân dân noi theo. Năm 1950, trong Điện gửi đồng bào Sơn Hà, Người nói rõ: Nếu cán bộ địa phương có điều gì sai lầm, nếu đồng bào có việc gì oan ức, thì đồng bào phái đại biểu đến trình bày với tôi và Chính phủ. Tôi bảo đảm rằng tôi và Chính phủ sẽ trừng trị những cán bộ có lỗi, và sẽ làm cho đồng bào khỏi oan ức, v.v..

Những dẫn chứng trên cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đề cao kỷ cương, kỷ luật và thực thi pháp luật. Người hết lòng thương yêu, khuyên bảo mọi người cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nh­ững ai tham ô, lãng phí, quan liêu, làm hại đến tính mệnh và tài sản của dân, của n­ước, làm hại thanh danh và uy tín của Đảng, của Chính phủ thì ng­ười đó vẫn phải đem ra thi hành kỷ luật, xét xử đúng luật pháp một cách công minh. Người thường đòi hỏi mọi người trong tiến hành công việc phải tôn trọng và tuân thủ nghiêm kỷ cương, pháp luật, thực hiện đúng trách nhiệm và nghĩa vụ công dân. Người ví, kỷ luật, mệnh lệnh, nghị quyết cũng như mạch máu trong cơ thể con người, mạch máu chạy đều khắp thân thể thì người khỏe mạnh. Nếu “mệnh lệnh đến khu rồi mắc nghẽn không xuống dưới nữa, tức là khu không theo kỷ luật. (...) Mệnh lệnh cũng như dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi. Nếu chảy đến tay mà mắc nghẽn, thì tay bại. Tay bại người sẽ yếu đi (...) Vậy các đồng chí phải làm sao cho những mệnh lệnh ở trên xuống được nhanh chóng và thi hành chu đáo”2.

Về kỷ luật lao động, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc mọi người rằng, Lênin rất chú trọng kỷ luật lao động. Những người lao động cần phải có kỷ luật lao động nghiêm minh. Đó là một kỷ luật tự nguyện tự giác, một kỷ luật giữa các đồng chí với nhau, nhằm nâng cao tính chủ động và tinh thần trách nhiệm của mọi người. Người yêu cầu các xí nghiệp, cơ quan, trường học, đoàn thể cần tăng cường kỷ luật lao động, nâng cao tinh thần trách nhiệm, chống mọi hành động vô tổ chức, vô kỷ luật, phải đề cao kỷ luật trong lao động, trong sản xuất, trong công tác. Đồng thời, Người nhắc nhở: Phải nâng cao kỷ luật lao động. Tình trạng muốn làm thì làm, không muốn làm thì thôi, nghỉ sớm, không ốm cũng cáo ốm để nghỉ, đều là thiếu kỷ luật lao động. Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua; nhà máy không có kỷ luật lao động, không phải là nhà máy tốt. Riêng đối với cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi tính kỷ luật cao, tư tưởng, hành động phải nhất trí, phải giữ nghiêm kỷ luật từ trên xuống dưới. Kỷ luật đó đòi hỏi tính tự giác của cán bộ, đảng viên đối với Đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Bởi, sức mạnh vô địch của một tổ chức là ở tính kỷ luật tự giác, ở tinh thần, ý thức tổ chức, chấp hành kỷ luật nghiêm túc của mọi thành viên. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên không những phải giữ kỷ luật sắt, kỷ luật tự giác của Đảng, mà còn phải gìn giữ kỷ luật của chính quyền, của cơ quan, đoàn thể và của nhân dân.

Trong nhiều bài nói, bài viết, Người chỉ ra rằng, nhiều người phạm lỗi, nhưng không bị trừng phạt xứng đáng, có người bị hạ tầng công tác nơi này, chuyển đi nơi khác lại ở nguyên cấp cũ, hay chỉ bị hạ tầng công tác theo hình thức, nhưng vẫn ở chức vụ cũ. Hoặc có người đáng phải bị kỷ luật, nhưng vì cảm tình, nể nang, chỉ phê bình, cảnh báo qua loa cho xong chuyện, thậm chí còn có nơi che đậy cho nhau, lừa dối cấp trên, giấu giếm Đảng, chính quyền. Rằng, còn không ít người, trong đó có cả cán bộ, đảng viên có chức, có quyền sa vào tham ô, lãng phí, buôn gian, lậu thuế, say xỉn, cờ bạc, hút xách, đánh cãi nhau, kiện cáo..., nhưng không bị phê bình và thi hành kỷ luật. Đối với những người mắc vào các tật bệnh này, Người phê bình rất nghiêm khắc. Người nói: “Thi hành kỷ luật như vậy làm cho các đồng chí không những không biết sửa lỗi mình mà còn khinh thường kỷ luật”. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, dưới bút danh Lê Quyết Thắng, Người viết một loạt bài đăng trên báo Cứu quốc, trong đó có nhiều bài phê phán nghiêm khắc thói vô tổ chức, vô kỷ luật, coi thường pháp luật. Rằng: “Họ âm thầm phớt qua phép luật, trốn tránh và làm trái phép luật. Về điểm này, những người ngoài Đảng cẩn thận hơn. Vì đảng viên thường xem phép luật, chính quyền, v.v. là việc trong nhà. Vì vậy, mà có đôi đảng viên như những con lợn, (xin lỗi tiếng đó), họ rúc vào vườn rau của Nhà nước, chén một bữa no say, hoặc họ hy sinh lợi ích của nước nhà, để lên mặt mình là khảng khái. Chúng ta phải chấm dứt cái thói vô chính phủ ấy”3.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi kỷ cương, kỷ luật, thực thi pháp luật là việc cực kỳ quan trọng và cần thiết. Người yêu cầu mọi người phải tuân thủ nguyên tắc cá nhân phục tùng tổ chức, số ít phục tùng số nhiều, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng trung ương; phải giữ vững kỷ cương, kỷ luật, giữ gìn tư cách và bổn phận công dân và đạo đức công dân. Theo Người, những người không phục tùng mệnh lệnh, kỷ cương, kỷ luật, cứ làm theo ý mình, đó là bệnh cá nhân chủ nghĩa, nên phải giữ nghiêm kỷ luật, nâng cao kỷ cương, phép nước. Đối với những người có thành tích, ưu điểm phải được khen thưởng, những người có sai lầm, khuyết điểm phải phê bình, kiểm thảo; còn đối với những kẻ ngoan cố không tôn trọng kỷ cương, kỷ luật, không chịu sửa đổi thì phải dùng đến luật pháp để trừng trị, nhất là những hành động, việc làm có hại đến lợi ích của Tổ quốc, đến tài sản, tính mệnh của nhân dân. Người nói: Về kỷ luật, phải thưởng phạt cho công minh. Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ. Tuy nhiên, Người cũng lưu ý: “Sửa chữa sai lầm, cố nhiên cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ. Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng. Vì vậy, cần phải phân tách rõ ràng cái cớ sai lầm, phải xét kỹ lưỡng việc nặng hay nhẹ, phải xử phạt cho đúng”4.

Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhắc nhở mọi người giữ vững trật tự, an ninh chung để an cư, lạc nghiệp. Giữ gìn trật tự, an ninh chung, trước hết là công việc của công an, bộ đội, cảnh sát, nhưng mọi người làm bất kỳ việc gì đều có trách nhiệm tôn trọng và giữ gìn trật tự, an ninh, vì nó có quan hệ trực tiếp đến lợi ích của mọi người. Người lấy ví dụ: Các chủ ô tô thì niêm yết giá vé và không chở quá nhiều khách. Công an thì quy định và phổ biến luật đi đường, làm cho mọi người tôn trọng luật đi đường. Cán bộ đi họp đúng giờ, đồng bào nộp thuế thì bảo đảm nộp thóc gạo sạch sẽ, v.v..

Câu chuyện sau đây cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh tôn trọng kỷ cương, kỷ luật và thực thi phép nước. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, một cán bộ của Đảng khi làm Cục trưởng Cục Quân nhu đã lợi dụng chức vụ bớt xén phần cơm áo vốn đã thiếu thốn của cán bộ, bộ đội. Vụ án được khởi tố đưa ra tòa án quân sự và người này lãnh án tử hình. Anh ta kháng án lên Người xin được khoan hồng. Vụ án gây cho Người nỗi buồn sâu sắc. Nhưng trị một người để cứu muôn người dù rất đau lòng, Người đã ký lệnh bác đơn chống án và bản án được thi hành.

Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải ghi nhớ lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải nâng cao kỷ luật, giữ vững kỷ luật. Những cán bộ có ưu điểm thì phải khen thưởng; người làm trái kỷ luật thì phải phạt. Nếu không thưởng thì không có khuyến khích; nếu không có phạt thì không giữ vững kỷ luật. Thưởng phạt nghiêm minh là cần thiết”5.

Làm việc phải biết phát huy sáng kiến, thường xuyên rút kinh nghiệm

Về biết phát huy sáng kiến: Làm việc phải có sáng kiến, không có sáng kiến thì công việc thường tiến triển chậm, lâu có kết quả. Xưa nay, không có và không bao giờ chỉ có cách làm duy nhất thích hợp với mọi công việc, mọi hoàn cảnh, mọi thời gian. Một cách làm việc nào đó có thể thích hợp với địa phương này, đúng trong thời kỳ này, hoàn cảnh này, công việc này, song có thể sẽ sai nếu áp dụng máy móc vào địa phương khác, vào thời kỳ khác, hoàn cảnh khác và công việc khác. Vì thế, trong tiến hành công việc đòi hỏi mọi người phải biết phát huy sáng kiến.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sáng kiến không phải cái gì lạ, mà nó chỉ là kết quả của sự nghiên cứu, suy nghĩ, tìm tòi trong khi tiến hành công việc để tìm ra cách làm đúng, thiết thực và hiệu quả. Người nói: “Bất kỳ việc to việc nhỏ, hễ thêm điều lợi, trừ điều hại cho quần chúng, giúp quần chúng giải quyết vấn đề khó khăn, tăng kết quả của việc làm, tăng sức sản xuất của xã hội, đánh đổ sức áp bức của quân thù, đó đều là sáng kiến”6. Vì thế, trong quá trình tiến hành mọi công việc, Người đòi hỏi phải không ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến cách làm, không ngừng sáng tạo, phát huy sự nhiệt tình và lòng hăng hái. Phải có tinh thần mạnh dạn, quả quyết trong việc đề ra những sáng kiến, đồng thời phải dự đoán được kết quả của những công việc. Bởi trong thực tiễn tiến hành công việc thường phát sinh những vấn đề khó khăn và phức tạp mới, nên phải biết căn cứ vào đó mà kịp thời điều chỉnh, uốn nắn, nhanh chóng tìm ra cách làm mới phù hợp, bảo đảm cho công việc đạt kết quả tốt. Mặt khác, còn phải biết làm cho mọi người đề ra sáng kiến, khi những sáng kiến đó được áp dụng có kết quả và được khen ngợi, biểu dương kịp thời thì mọi người càng thêm hăng hái và người khác cũng học theo, đồng thời những khuyết điểm, hạn chế cũng được khắc phục.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, trong sản xuất và sinh hoạt, nhân dân ta rất cần cù, thông minh, có nhiều sáng kiến hay. Theo Người, cùng với học hỏi, sáng kiến và kinh nghiệm là của quý của cả dân tộc, phải ra sức làm cho nó dồi dào thêm và lan rộng mãi. Sáng kiến như con suối nhỏ chảy vào sông, những con sông chảy vào biển. Không biết quý trọng sáng kiến và phổ biến kinh nghiệm là lãng phí vốn quý của dân tộc. Người nêu: Bất kỳ ai, nếu có quyết tâm làm ích lợi cho quần chúng, lại chịu học, chịu hỏi quần chúng, óc chịu khó nghĩ, tay chịu khó làm, thì nhất định có sáng kiến, nhất định làm được những điều có ích cho loài người. Người thường xuyên nhắc nhở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu cần tổng kết những sáng kiến, nếu khéo khuyến khích, vun trồng những sáng kiến ấy thì công việc sẽ không ngừng nở hoa, kết quả. Mặt khác, cần nâng cao và mở rộng dân chủ, động viên, cổ vũ quần chúng suy nghĩ, tìm tòi, phát huy sáng kiến, cải tiến công việc. Khi họ đã có sáng kiến, thì giúp họ phát triển thêm. Làm được như vậy thì những tính lười biếng, gặp chăng hay chớ, qua loa, đại khái, cẩu thả, lụp chụp... ngày càng bớt, mà sáng kiến và tính hăng hái ngày càng thêm nhiều, hiệu quả công việc sẽ tăng cao.

Ghi nhớ lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Từ nay, công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới. Có như thế thì người mới có tài, tài mới có dụng”7.

Về thường xuyên rút kinh nghiệm: Quá trình học tập, làm việc và công tác là quá trình rèn luyện, tích lũy kiến thức, bổ sung, đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn. Nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm thường xuyên là việc làm cần thiết sau khi công việc đã tiến hành xong, nhằm tìm ra những cái hay, cái tốt, cái đúng, cái thành công để đề cao, phát huy và phổ biến; đồng thời thấy rõ những cái xấu, cái sai, cái thất bại để tránh. Vì những kinh nghiệm đó đem trao đổi, gom góp lại sẽ là những bài học quý cho những công việc tiếp theo.

Phương pháp tổng kết, đúc rút kinh nghiệm là phương pháp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thường sử dụng. Người rất coi trọng tổng kết thực tiễn để đúc rút kinh nghiệm trong từng chủ trương, từng công việc, từ đó bổ sung kịp thời những chủ trương, biện pháp mới và điều quan trọng hơn là rút ra những kết luận mới để bổ sung cho lý luận. Ngay từ năm 1945, trong bài viết trên báo Cứu quốc, Người đã chỉ rõ: Sau khi làm xong một công tác gì, hay sau mỗi ngày làm việc, cần phải tự mình kiểm điểm xem có chỗ nào nhầm lẫn, chỗ nào chưa đầy đủ, có được ưu điểm gì nên nhớ, được kinh nghiệm gì quý đáng ghi. Phải bỏ hẳn thái độ “xong việc thì thôi”. Đồng thời, Người còn yêu cầu phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm; phải tránh khi có công việc thì tiến hành một cách máy móc, khi làm xong lại chỉ ngồi không, không chịu rút kinh nghiệm. Người khuyên: Trong quá trình tiến hành công việc không chỉ thường xuyên phân tích, đúc kết và nâng cao những kinh nghiệm của bản thân, của đơn vị mình, mà còn học tập một cách chăm chú, cẩn thận và có chọn lọc những kinh nghiệm hay của người khác, của đơn vị khác, của các nước bạn. Phải rút kinh nghiệm hằng ngày, hằng giờ, phải thường xuyên rút kinh nghiệm để có sáng kiến, để tranh thủ thời cơ. Khi thành công phải nghiên cứu vì sao thành công để phát huy, khi thất bại cũng xét xem tại sao thất bại để mà tránh.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mọi hiểu biết đều do kinh nghiệm trực tiếp hoặc kinh nghiệm gián tiếp mà có. Kinh nghiệm gián tiếp là kinh nghiệm của người xưa để lại và kinh nghiệm của nước ngoài. Nếu những hiểu biết, những kinh nghiệm ấy hợp với điều kiện khách quan thì nó đúng. Người nói: “Sự hiểu biết của mỗi người có hai bộ phận: kinh nghiệm trực tiếp và kinh nghiệm gián tiếp. Và kinh nghiệm gián tiếp của ta tức là kinh nghiệm trực tiếp của người. Cho nên, nói chung, sự hiểu biết nào cũng không thể tách rời kinh nghiệm trực tiếp. “Không vào hang, không bắt được cọp”. Câu tục ngữ ấy là một sự thật cho thực hành, cũng là một sự thật cho hiểu biết. Không thực hành thì nhất định không thể hiểu biết”8. Vì thế, phải biết nghiên cứu kinh nghiệm đến tận gốc rễ bằng cách tìm hiểu công việc một cách tỉ mỉ, cẩn thận, toàn diện các việc cả trước và sau khi xong công việc. Không chỉ có vậy, mà còn phải rút kinh nghiệm riêng của từng người, kinh nghiệm chung của từng địa phương, từng đơn vị, từ đó tổng kết, phổ biến kinh nghiệm ấy cho tất cả mọi người, cho các địa phương, cho các đơn vị để học những kinh nghiệm hay, tránh kinh nghiệm dở.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, rất nhiều công việc chúng ta đã đạt được nhiều thành tích rất khá, nhưng không biết nghiên cứu đến nơi đến chốn, vì sao có thành tích, nơi nào có thành tích tốt, ai là người làm được thành tích đó để mà học kinh nghiệm và đặt khuôn phép cho công việc khác. Thành thử cái tốt, cái hay đều không phát triển được, mà thường công việc xong rồi là thôi, mọi người không học được kinh nghiệm gì và cũng không tiến bộ được mấy, cũng do không nghiên cứu những khó khăn, sai lầm, khuyết điểm để sửa chữa cho kịp thời. Vì thế, Người động viên: Anh em đều có ít nhiều kinh nghiệm, nay lại hăng hái học hỏi. Khi làm việc, cần phải áp dụng những điều đã học cộng với kinh nghiệm của mình vào công việc thực tế một cách khôn khéo, mềm dẻo, hợp với hoàn cảnh chứ không nên máy móc. Mỗi người, mỗi cán bộ phải biết học những kinh nghiệm hay, tránh những kinh nghiệm dở, áp dụng kinh nghiệm cũ vào công việc mới. Như vậy, khuyết điểm ngày càng bớt, ưu điểm ngày càng thêm, công việc sẽ rất mau tiến bộ.

Ghi nhớ lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Sau mỗi một việc cần phải rút kinh nghiệm. Kinh nghiệm riêng từng cán bộ, từng địa phương. Kinh nghiệm chung tất cả các cán bộ và các địa phương. Kinh nghiệm thất bại và kinh nghiệm thành công. Rồi tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm ấy cho khắp tất cả cán bộ, tất cả địa phương”9.

Có thể kết luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh có phong cách làm việc khoa học, giải quyết đúng đắn và thỏa đáng các mối quan hệ trong công việc, tôn trọng phép nước, kỷ cương, kỷ luật. Trong tiến hành công việc, Người không dựa vào quyền lực để sai khiến, buộc mọi người và cấp dưới phục tùng, mà bằng sự gương mẫu, thuyết phục và bằng tấm lòng nhân ái, luôn phát huy sáng kiến và thường xuyên rút kinh nghiệm, nên có sự cảm hóa lớn lao. Qua phong cách làm việc của Người, mọi người đến với Đảng, đến với cách mạng, đến với công việc không phải chỉ bằng lý trí, mà còn bằng tình cảm, sự nhiệt tình và say mê. Vì thế, học một số phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta cần ghi nhớ những điều căn dặn của Người và thực hiện tốt trong công việc hằng ngày. Cụ thể là, làm việc phải giữ nghiêm phép nước, kỷ cương, kỷ luật, phải biết phát huy sáng kiến và thường xuyên rút kinh nghiệm.

PGS. TS. Lê Văn Yên

1, 2, 4, 6, 7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 74-75, 260-261, 323-324, 284, 283.

3, 8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr. 368, 124-125.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr. 310.

9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr. 238.