Trang chủ

Hỏi đáp pháp luật

Untitled document

Hỏi - đáp pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo (phần 4)

Câu 31. Hội đoàn, dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho đăng ký hoạt động, có thể bị đình chỉ hoạt động khi nào?

Trả lời:

Hội đoàn, dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho đăng ký hoạt động, có thể bị đình chỉ hoạt động khi tổ chức này hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích, đường hướng hoạt động của tổ chức đã đăng ký, gây ra những hậu quả xấu cho cộng đồng và xã hội.

Câu 32. Hoạt động tôn giáo là gì?

Trả lời:

Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo.

Truyền bá giáo lý, giáo luật (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền những lý lẽ về sự ra đời, về luật lệ của tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền đạo, niềm tin tôn giáo của tín đồ được củng cố, luật lệ trong tôn giáo được tín đồ thực hiện. Đối với những người chưa phải là tín đồ, hoạt động truyền đạo giúp họ hiểu, tin và theo tôn giáo.

Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ giáo luật, thỏa mãn đức tin tôn giáo của cá nhân tôn giáo hay của cộng đồng tín đồ.

Hoạt động quản lý tổ chức của tôn giáo nhằm thực hiện quy định của giáo luật, hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, bảo đảm duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo.

Câu 33. Việc đăng ký hoạt động tôn giáo được quy định như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật, hằng năm trước ngày 15-10 (dương lịch), người phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở có trách nhiệm gửi bản đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo sẽ diễn ra vào năm sau của cơ sở với Ủy ban nhân dân cấp xã sở tại.

Bản đăng ký cần thể hiện những nội dung sau:

- Tên người tổ chức, chủ trì hoạt động tôn giáo.

- Dự kiến thành phần tham gia hoạt động tôn giáo.

- Nội dung hoạt động tôn giáo.

- Thời gian hoạt động tôn giáo (diễn ra trong bao lâu, bắt đầu từ ngày tháng nào).

- Địa điểm diễn ra hoạt động tôn giáo.

- Cam kết của tổ chức tôn giáo cơ sở về việc tổ chức hoạt động tôn giáo theo đúng nội dung đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp xã.

Khi nhận được bản đăng ký hoạt động tôn giáo hằng năm của tổ chức tôn giáo cơ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xem xét những nội dung trong bản đăng ký hoạt động, nếu những nội dung đăng ký và những hoạt động tôn giáo là những hoạt động thông thường của tổ chức tôn giáo cơ sở, việc tổ chức không ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh tế, xã hội ở địa phương trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được bản đăng ký hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã nên có văn bản trả lời tổ chức tôn giáo cơ sở. Trường hợp nội dung đăng ký có những vấn đề cần trao đổi lại với tổ chức tôn giáo cơ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản yêu cầu họ chỉnh sửa và đăng ký lại với địa phương.

Nếu quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đăng ký của tổ chức tôn giáo cơ sở mà Ủy ban nhân dân cấp xã không có ý kiến khác thì được xem là Ủy ban nhân dân xã đã đồng ý với bản đăng ký của tổ chức tôn giáo cơ sở, tổ chức tôn giáo cơ sở được hoạt động tôn giáo theo nội dung đã đăng ký.

Câu 34. Thế nào là tổ chức tôn giáo cơ sở?

Trả lời:

Tổ chức tôn giáo cơ sở là đơn vị cơ sở của tổ chức tôn giáo, bao gồm:

- Ban hộ tự hoặc Ban quản trị Chùa của đạo Phật.

- Giáo xứ của đạo Công giáo.

- Chi hội của đạo Tin lành.

- Họ đạo của đạo Cao Đài.

- Ban trị sự xã, phường, thị trấn của Phật giáo Hòa Hảo và đơn vị cơ sở của tổ chức tôn giáo khác.

Câu 35. Những hoạt động tôn giáo chưa đăng ký trong chương trình hoạt động tôn giáo hằng năm, tổ chức tôn giáo cơ sở cần làm thủ tục gì để được hoạt động?

Trả lời:

Trong trường hợp có những hoạt động tôn giáo diễn ra đột xuất mà tổ chức tôn giáo cơ sở không trù liệu trước được để đăng ký (hoạt động tôn giáo ngoài chương trình đã đăng ký), muốn những hoạt động này được diễn ra thì tổ chức tôn giáo cơ sở phải xin phép và được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Theo quy định của pháp luật thì ngoài các hội nghị, đại hội và các cuộc lễ của tổ chức tôn giáo diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo có quy định riêng, các hoạt động tôn giáo khác mà tổ chức tôn giáo chưa đăng ký hằng năm thì thẩm quyền chấp thuận được quy định như sau:

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi diễn ra hoạt động tôn giáo chấp thuận đối với hoạt động tôn giáo có sự tham gia của tín đồ ngoài huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc ngoài tỉnh.

- Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi diễn ra hoạt động tôn giáo chấp thuận đối với hoạt động tôn giáo có sự tham gia của tín đồ trong huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Câu 36. Hoạt động tôn giáo nào được coi là trái pháp luật?

Trả lời:

Các hoạt động tôn giáo sau đây được coi là hoạt động tôn giáo trái pháp luật:

- Người hoạt động tôn giáo thuộc tổ chức chưa được Nhà nước cấp đăng ký hoạt động tôn giáo.

 - Chức sắc, nhà tu hành đang chấp hành án phạt tù hoặc đang bị quản chế hành chính.

- Người đã chấp hành xong hình phạt hoặc biện pháp xử lý hành chính nhưng chưa được tổ chức tôn giáo đăng ký hoạt động và chưa được sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

- Chức sắc, nhà tu hành được tổ chức tôn giáo phong chức, phong phẩm, lấy chức danh đó để hoạt động tôn giáo nhưng chưa đăng ký chức danh với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

- Những người bị tổ chức tôn giáo cách chức, bãi nhiệm nhưng vẫn lấy chức danh đó để hoạt động tôn giáo.

- Những người mạo danh chức sắc, nhà tu hành để hoạt động tôn giáo.

- Truyền bá tôn giáo, tiến hành các nghi thức tôn giáo trong các trường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân, của cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang.

- Truyền bá những nội dung trái với giáo lý, giáo luật, đi ngược lại với đường hướng hành đạo của tổ chức tôn giáo, với đạo đức, truyền thống văn hóa, thuần phong, mỹ tục của dân tộc.

- Tổ chức các hoạt động tôn giáo tại các cơ sở chưa được Nhà nước công nhận, cho phép hoạt động hoặc ở trong khách sạn, nhà hàng, công ty, những nơi công cộng như bến tàu, bến xe, nhà ga, công viên và những nơi tập trung đông người.

- Thực hiện những hoạt động tôn giáo khi chưa được chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà theo quy định của pháp luật trước khi thực hiện những hoạt động này phải có sự chấp thuận mới được hoạt động.

Câu 37. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bị đình chỉ khi nào?

Trả lời:

Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bị đình chỉ khi vi phạm một trong các trường hợp sau:

- Xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng hoặc môi trường.

- Tác động xấu đến đại đoàn kết nhân dân, đến truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

- Xâm phạm tính mạng, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác.

- Có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác.

Câu 38. Pháp luật quy định như thế nào đối với người đi tu?

Trả lời:

Lựa chọn đi tu hay không là quyền tự do của mỗi người. Pháp luật quy định người đi tu tại các cơ sở tôn giáo trên cơ sở tự nguyện, không ai được ép buộc hoặc cản trở. Đối với những người chưa thành niên khi đi tu phải được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận người vào tu, người phụ trách cơ sở tôn giáo có trách nhiệm đăng ký người vào tu với Ủy ban nhân dân cấp xã. Hồ sơ đăng ký gồm:

- Danh sách người vào tu.

- Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người vào tu có hộ khẩu thường trú.

- Ý kiến đồng ý bằng văn bản của cha mẹ, hoặc người giám hộ (đối với người chưa thành niên vào tu).

Câu 39. Việc tổ chức hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo được quy định như thế nào?

Trả lời:

Hội nghị, đại hội là một trong những hoạt động quan trọng của tổ chức tôn giáo. Theo quy định của pháp luật, trước khi tổ chức hội nghị, đại hội tổ chức tôn giáo phải xin phép và được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

a) Về thẩm quyền chấp thuận:

Tùy theo cấp tổ chức đại hội, hội nghị, pháp luật quy định việc xem xét chấp thuận hội nghị, đại hội cho các cơ quan khác nhau. Cụ thể:

+ Hội nghị thường niên, đại hội của tổ chức tôn giáo cơ sở phải được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi diễn ra hội nghị, đại hội.

+ Hội nghị thường niên, đại hội của tổ chức tôn giáo cấp Trung ương hoặc toàn đạo phải được sự chấp thuận của Ban Tôn giáo Chính phủ.

- Hội nghị thường niên, đại hội của tổ chức tôn giáo không thuộc những trường hợp trên phải được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi diễn ra hội nghị, đại hội.

b) Về hồ sơ:

Trước khi tổ chức, tổ chức tôn giáo tổ chức hội nghị, đại hội có trách nhiệm gửi hồ sơ xin tổ chức đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hồ sơ gồm: Văn bản (đơn) đề nghị tổ chức hội nghị, đại hội, trong đó cần nêu rõ lý do tổ chức, dự kiến thành phần, số lượng người tham dự, nội dung, chương trình, thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị; báo cáo hoạt động của tổ chức và các văn bản có liên quan đến hội nghị, đại hội; cam kết của tổ chức trong việc tổ chức hội nghị, đại hội. Riêng đối với hội nghị, đại hội cấp Trung ương hoặc toàn đạo, hồ sơ cần bổ sung ý kiến bằng văn bản của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi dự kiến tổ chức hội nghị, đại hội và bản hiến chương, điều lệ hoặc hiến chương, điều lệ sửa đổi (nếu có).

c) Thời hạn trả lời:

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ xin tổ chức hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo cơ sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

Đối với hội nghị, đại hội cấp Trung ương hoặc toàn đạo của tổ chức tôn giáo, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ban Tôn giáo Chính phủ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

Đối với hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo không thuộc hai trường hợp trên, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

Câu 40. Việc tổ chức cuộc lễ diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo được quy định như thế nào?

Trả lời:

Cuộc lễ diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo được hiểu là những cuộc lễ diễn ra ngoài phạm vi nơi thờ tự, tu hành, nơi đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận.

Trước khi tổ chức các cuộc lễ diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị (văn bản nêu rõ: tên cuộc lễ, người chủ trì, nội dung, chương trình, thời gian, quy mô, thành phần tham dự cuộc lễ) đến:

- Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi diễn ra cuộc lễ đối với cuộc lễ có sự tham gia của tín đồ trong phạm vi một huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho tổ chức tôn giáo, nếu không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi diễn ra cuộc lễ đối với các cuộc lễ có sự tham gia của tín đồ đến từ nhiều quận, huyện, thành phố trong tỉnh hoặc nhiều tỉnh, thành phố. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, nếu không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

 

Hỏi - đáp pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo (phần 3)

Câu 21. Tổ chức được đăng ký hoạt động tôn giáo có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, công nhận tổ chức của mình là tổ chức tôn giáo khi nào?

Trả lời:

Sau một thời gian đăng ký hoạt động tôn giáo và hoạt động tôn giáo ổn định, tổ chức sẽ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét công nhận là tổ chức tôn giáo. Hoạt động tôn giáo ổn định là hoạt động mang tính chất thường xuyên, liên tục, không gián đoạn trong một khoảng thời gian nhất định theo quy định của pháp luật. Trường hợp hoạt động tôn giáo không thường xuyên, gián đoạn, nếu không có lý do chính đáng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền từ chối xem xét, công nhận tổ chức tôn giáo, tổ chức muốn hoạt động tôn giáo phải làm thủ tục đăng ký hoạt động tôn giáo lại. Trường hợp hoạt động tôn giáo không thường xuyên, gián đoạn mà có lý do chính đáng thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn xem xét, công nhận tổ chức tôn giáo, tuy nhiên khoảng thời gian không thường xuyên, gián đoạn không được tính vào khoảng thời gian hoạt động tôn giáo ổn định để xem xét công nhận tổ chức tôn giáo.

Theo quy định của pháp luật thì thời gian hoạt động tôn giáo ổn định được tính từ ngày tổ chức đó được đăng ký hoạt động và được quy định như sau:

- Hai mươi năm đối với tổ chức hình thành ở Việt Nam sau ngày 15 tháng 11 năm 2004 (ngày Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực).

- Một năm đối với tổ chức đã hình thành ở Việt Nam từ 20 năm trở lên trước ngày 15 tháng 11 năm 2004.

- Đối với tổ chức đã hình thành ở Việt Nam chưa đủ 20 năm tính đến ngày 15 tháng 11 năm 2004 thì thời gian hoạt động tôn giáo ổn định sẽ gồm số thời gian tổ chức đó có được từ lúc hình thành đến ngày 15 tháng 11 năm 2004 cộng với thời gian tính từ thời điểm tổ chức đó đăng ký hoạt động cho đến khi đủ 20 năm. Chẳng hạn: tổ chức A hình thành và hoạt động tôn giáo ổn định từ 15 tháng 11 năm 1994, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho đăng ký hoạt động tôn giáo từ 15 tháng 11 năm 2005 thì thời điểm tổ chức tôn giáo đó có thể được xem xét công nhận là tổ chức tôn giáo từ ngày 15 tháng 11 năm 2015.

Câu 22. Việc công nhận tổ chức tôn giáo được quy định như thế nào?

Trả lời:

Khi tổ chức có đầy đủ các điều kiện để được công nhận là tổ chức tôn giáo, tổ chức có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị công nhận tổ chức tôn giáo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hồ sơ gồm:

- Văn bản đề nghị công nhận tổ chức tôn giáo. Nội dung văn bản cần nêu rõ:

+ Tên tổ chức đề nghị công nhận.

+ Số lượng tín đồ tại thời điểm đề nghị.

+ Phạm vi hoạt động tôn giáo của tổ chức tại thời điểm đề nghị.

+ Trụ sở chính của tổ chức.

- Giáo lý, giáo luật của tổ chức.

- Hiến chương, điều lệ của tổ chức.

- Bản đăng ký hoạt động tôn giáo của tổ chức do Ban Tôn giáo Chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cấp tỉnh cấp.

- Văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của tổ chức xác nhận hoạt động tôn giáo ổn định.

Khi nhận được hồ sơ hợp lệ, Ban Tôn giáo Chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan thẩm định hồ sơ và trong thời hạn 90 ngày (đối với trường hợp thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ), 60 ngày (đối với trường hợp thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) trình Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, công nhận tổ chức tôn giáo.

Theo quy định của pháp luật thì Thủ tướng Chính phủ công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận đối với các tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động chủ yếu trong một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Câu 23. Khi nào cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ chối tiếp nhận hồ sơ đề nghị công nhận tổ chức tôn giáo; từ chối công nhận tổ chức tôn giáo?

Trả lời:

Ban Tôn giáo Chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cấp tỉnh từ chối việc tiếp nhận hồ sơ xin công nhận tổ chức tôn giáo; Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh từ chối công nhận tổ chức tôn giáo trong những trường hợp sau:

- Hồ sơ thiếu một trong những loại giấy tờ theo quy định của pháp luật.

- Văn bản đề nghị công nhận tổ chức tôn giáo không rõ ràng; hiến chương, điều lệ có nội dung trái pháp luật, trái thuần phong, mỹ tục của dân tộc; cơ cấu tổ chức không phù hợp.

- Chưa đủ thời gian theo quy định của pháp luật để công nhận tổ chức hoạt động tôn giáo ổn định.

Câu 24. Tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận có quyền và trách nhiệm gì?

Trả lời:

Tổ chức được công nhận là tổ chức tôn giáo có đầy đủ các quyền khi tham gia hoạt động tôn giáo. Ngoài các quyền của tổ chức khi được đăng ký hoạt động tôn giáo, tổ chức tôn giáo còn có các quyền khác như: quyền được in ấn, xuất bản, xuất nhập khẩu kinh sách tôn giáo, đồ dùng việc đạo; quyền được cử chức sắc, tín đồ đi học tập, tham gia hoạt động tôn giáo ở nước ngoài; quyền được mời tổ chức tôn giáo nước ngoài vào Việt Nam để trao đổi về hoạt động tôn giáo; được Nhà nước bảo hộ khi tổ chức tôn giáo hoặc thành viên của tổ chức bị tổ chức, cá nhân khác xâm hại trái pháp luật.

Tương xứng với các quyền, Nhà nước cũng yêu cầu tổ chức tôn giáo và thành viên của họ hoạt động tôn giáo phải tuân thủ pháp luật; không được lợi dụng hoạt động tôn giáo xâm hại tới lợi ích của Nhà nước, xã hội và của cá nhân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc…

Câu 25. Những tổ chức đã được Nhà nước công nhận hoặc thừa nhận là tổ chức tôn giáo trước ngày Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 có hiệu lực có phải làm thủ tục công nhận lại không?

Trả lời:

Trước khi Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, căn cứ vào Nghị định số 60/HĐBT ngày 21-3-1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19-4-1999 của Chính phủ quy định về các hoạt động tôn giáo, Nhà nước ta đã công nhận, thừa nhận 16 tổ chức tôn giáo. Những tổ chức này không phải làm thủ tục công nhận lại.

Câu 26. Tổ chức tôn giáo có được thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc không? Việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất được quy định như thế nào?

Trả lời:

Trong quá trình hoạt động tôn giáo, tổ chức tôn giáo được thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc. Tuy nhiên, việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất phải xuất phát từ nhu cầu tổ chức tôn giáo và phải tuân thủ những điều kiện nhất định. Cụ thể:

Việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc phải có văn bản đề nghị của tổ chức tôn giáo và các tổ chức được thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thuộc hệ thống tổ chức tôn giáo quy định trong hiến chương, điều lệ đã được Nhà nước chấp thuận.

Ngoài ra, đối với trường hợp thành lập, chia, tách tổ chức tôn giáo trực thuộc phải đáp ứng điều kiện về tín đồ khi thành lập, chia, tách tổ chức.

a) Về thủ tục:

Muốn thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức tôn giáo phải có văn bản đề nghị gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Văn bản cần nêu rõ: tên tổ chức tôn giáo trực thuộc dự kiến thành lập; tên tổ chức tôn giáo trực thuộc trước khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất và dự kiến tên tổ chức tôn giáo trực thuộc sau khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất; lý do thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất; số lượng tín đồ hiện có tại thời điểm thành lập; số lượng tín đồ trước và sau khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất; phạm vi hoạt động tôn giáo; cơ sở vật chất và trụ sở của tổ chức.

b) Về thẩm quyền:

Việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo cơ sở như Ban hộ tự hoặc Ban quản trị Chùa của đạo Phật; Giáo xứ của đạo Công giáo; Chi hội của đạo Tin lành, v.v., do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định. Việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc những trường hợp trên đây như việc thành lập Ban trị sự Phật giáo của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Giáo phận của đạo Công giáo, v.v., do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

c) Về thời hạn trả lời:

Trong thời gian 60 ngày kể từ ngày nhận được văn bản hợp lệ, Ban Tôn giáo Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ trả lời tổ chức tôn giáo về việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất Ban trị sự Phật giáo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của đạo Phật; Giáo phận của đạo Công giáo và những tổ chức tương đương của tổ chức tôn giáo khác. Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được văn bản hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trả lời tổ chức tôn giáo về việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất đối với các tổ chức tôn giáo cơ sở.

Câu 27. Khi nào cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ chối đề nghị cho thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc?

Trả lời:

Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể từ chối việc đề nghị thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất của tổ chức tôn giáo khi việc thành lập, chia, tách, sáp nhập không đáp ứng được những điều kiện theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn, việc xin thành lập một tổ chức tôn giáo mà tổ chức này không thuộc hệ thống, độc lập với tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận hoặc không đúng với cơ cấu tổ chức được quy định trong hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước chấp thuận thì Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể từ chối đề nghị của tổ chức tôn giáo.

Câu 28. Tổ chức tôn giáo có được thành lập hội đoàn, dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể không?

Trả lời:

Để phục vụ cho hoạt động tôn giáo, Nhà nước cho phép các tổ chức tôn giáo được thành lập hội đoàn, dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể. Tuy nhiên, để thành lập hội đoàn, dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể thì tổ chức tôn giáo phải trực tiếp đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tuân thủ những điều kiện nhất định.

Câu 29. Hội đoàn tôn giáo là gì? Việc đăng ký hội đoàn tôn giáo được quy định như thế nào?

Trả lời:

Hội đoàn tôn giáo là hình thức tập hợp tín đồ do tổ chức tôn giáo lập ra nhằm phục vụ hoạt động tôn giáo.

Việc đăng ký hội đoàn tôn giáo được quy định như sau:

- Những hội đoàn do tổ chức tôn giáo lập ra chỉ nhằm phục vụ lễ nghi tôn giáo thì không phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Đối với những hội đoàn tôn giáo lập ra không chỉ nhằm phục vụ lễ nghi tôn giáo thì phải làm hồ sơ đăng ký hoạt động của hội đoàn gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Hồ sơ đăng ký gồm văn bản đăng ký, trong đó nêu rõ tên tổ chức tôn giáo, tên hội đoàn, cá nhân chịu trách nhiệm về hoạt động của hội đoàn; danh sách những người tham gia điều hành hội đoàn; nội quy, quy chế hoặc điều lệ hoạt động của hội đoàn, trong đó nêu rõ mục đích hoạt động, hệ thống tổ chức và quản lý của hội đoàn.

Tùy theo phạm vi hoạt động của hội đoàn, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ban Tôn giáo Chính phủ. Sau 45 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền không có ý kiến khác thì mặc nhiên hội đoàn được coi là đăng ký hợp pháp và được hoạt động theo nội dung đã đăng ký.

Câu 30. Việc đăng ký hoạt động của dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể được quy định như thế nào?

Trả lời:

Những dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể đã đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được phép hoạt động trước ngày Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực (15-11-2004) thì không phải làm thủ tục đăng ký.

Trường hợp dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể đã hoạt động trước ngày Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 có hiệu lực nhưng chưa đăng ký hoạt động với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19-4-1999 của Chính phủ quy định về hoạt động tôn giáo thì phải làm thủ tục đăng ký.

a) Về thủ tục:

Để đăng ký hoạt động của dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể, người đứng đầu tổ chức này có trách nhiệm làm hồ sơ đăng ký hoạt động của tổ chức gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hồ sơ đăng ký gồm:

+ Văn bản đăng ký, nội dung văn bản cần nêu rõ tên dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể, trụ sở hoặc nơi làm việc (nơi liên hệ), tên người đứng đầu dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể.

+ Danh sách tu sĩ. Danh sách cần ghi rõ họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú.

+ Nội quy, quy chế hoặc điều lệ hoạt động trong đó cần nêu rõ tôn chỉ, mục đích hoạt động, hệ thống tổ chức và quản lý.

b) Về thẩm quyền cho đăng ký:

Tùy theo phạm vi hoạt động tôn giáo của dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể, pháp luật quy định như sau:

+ Dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể có phạm vi hoạt động trong một huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp huyện.

+ Dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể có phạm vi hoạt động ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố trong một tỉnh đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

+ Dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể có phạm vi hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đăng ký với Ban Tôn giáo Chính phủ.

c) Về thời hạn trả lời:

Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Ban Tôn giáo Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của pháp luật) có trách nhiệm xem xét cấp đăng ký hoạt động cho dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể. Trường hợp từ chối cấp đăng ký, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

 

Hỏi - đáp pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo (phần 2)

Câu 11. Thế nào là nhà tu hành?

Trả lời:

Nhà tu hành là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo. Thông thường, nói đến nhà tu hành là người ta nói đến những người đã xuất gia tu hành hoặc những người chuyên chăm lo việc đạo, thực hiện nếp sống đạo.

Câu 12. Thế nào là chức sắc?

Trả lời:

Chức sắc là tín đồ có chức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo. Thông thường, chức sắc tôn giáo vừa là người giữ chức vụ, vừa là người giữ phẩm sắc trong tôn giáo. Chẳng hạn, trong đạo Phật người giữ chức Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (chức vụ) và là Hòa thượng (phẩm sắc) được xác định là chức sắc Phật giáo. Nhưng cũng có trường hợp một người chỉ có phẩm sắc mà không giữ chức vụ đạo nào vẫn được coi là chức sắc tôn giáo. Tùy từng trường hợp cụ thể mà người ta xác định một người có phải là chức sắc tôn giáo hay không.

Câu 13. Trong hoạt động tôn giáo chức sắc, nhà tu hành có quyền gì?

Trả lời:

Chức sắc, nhà tu hành trước hết cũng là những tín đồ, do đó, được hưởng mọi quyền của một tín đồ. Trong hoạt động tôn giáo, chức sắc, nhà tu hành được thực hiện lễ nghi tôn giáo trong phạm vi phụ trách; được giảng đạo, truyền đạo tại các cơ sở tôn giáo không phân biệt cơ sở tôn giáo đó có thuộc phạm vi phụ trách của mình hay không; được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển theo quy định của pháp luật và của tổ chức tôn giáo; được học tập, tham gia hoạt động tôn giáo, du lịch, thăm thân, khám, chữa bệnh ở nước ngoài.

Câu 14. Trách nhiệm của chức sắc, nhà tu hành trong hoạt động tôn giáo?

Trả lời:

Tương ứng với các quyền, Nhà nước yêu cầu khi hoạt động tôn giáo, chức sắc, nhà tu hành có trách nhiệm thường xuyên giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước, thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân và ý thức chấp hành pháp luật; hoạt động tôn giáo phải tuân thủ quy định của pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo để chia rẽ nhân dân, chia rẽ tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước,...

Câu 15. Điều kiện nào để tổ chức được Nhà nước công nhận là tổ chức tôn giáo?

Trả lời:

Tổ chức được Nhà nước công nhận là tổ chức tôn giáo khi có đủ các điều kiện:

- Là tổ chức của những người cùng chung một tín ngưỡng (cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi). Nội dung giáo lý, giáo luật và lễ nghi của tổ chức không được trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc.

- Có hiến chương, điều lệ; hiến chương, điều lệ của tổ chức phải thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, nội dung không được trái với quy định của pháp luật và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

- Có đăng ký hoạt động tôn giáo và hoạt động tôn giáo ổn định.

- Có trụ sở giao dịch của tổ chức. Có dự kiến cơ cấu tổ chức hợp lý và người đại diện hợp pháp.

- Tên gọi của tổ chức không được trùng với tên gọi của tổ chức tôn giáo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.

Câu 16. Hiện nay ở nước ta có bao nhiêu tổ chức tôn giáo?

Trả lời:

Ở nước ta hiện có 32 tổ chức tôn giáo, đó là:

- Giáo hội Phật giáo Việt Nam

- Giáo hội Công giáo Việt Nam

- Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo

- Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Thành phố Hồ Chí Minh

- Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo tỉnh An Giang

- Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo tỉnh Tây Ninh

- Hội đồng Sư cả Bàni tỉnh Ninh Thuận

- Hội Thánh Cao đài Tây Ninh

- Hội Thánh Cao đài Tiên Thiên

- Hội Thánh Cao đài Chơn lý

- Hội Thánh Cao đài Bạch y

- Hội Thánh Cao đài Chiếu minh Long châu

- Hội Thánh Cao đài Minh chơn đạo

- Hội Thánh Cao đài Ban chỉnh

- Hội Thánh Cao đài Cầu kho Tam quan

- Hội Thánh Truyền giáo Cao đài

- Giáo hội Phật đường Nam tông Minh Sư đạo

- Minh lý đạo - Tam tông Miếu

- Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc)

- Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam)

- Hội truyền giáo Cơ đốc Việt Nam

- Hội thánh Cơ đốc Phục lâm Việt Nam

- Tổng hội Báp tít Việt Nam (Ân điển - Nam Phương)

- Hội thánh Mennonite Việt Nam

- Hội Thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam

- Hội Thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam

- Hội thánh Báp tít Việt Nam (Nam Phương)

- Hội thánh Phúc Âm Ngũ Tuần

- Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam

- Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa

- Bửu Sơn Kỳ Hương

- Đạo Ba Ha'i.

Câu 17. Đối với những tôn giáo chưa được Nhà nước công nhận về tổ chức, muốn được công nhận phải làm thủ tục gì?

Trả lời:

Những tổ chức chưa được công nhận là tổ chức tôn giáo nếu có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật, sẽ được Nhà nước xem xét cho đăng ký hoạt động và công nhận về tổ chức.

Câu 18. Việc đăng ký hoạt động của tổ chức được quy định như thế nào?

Trả lời:

Tổ chức muốn đăng ký hoạt động tôn giáo phải có hồ sơ xin đăng ký hoạt động tôn giáo gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hồ sơ gồm:

- Văn bản đăng ký hoạt động tôn giáo của tổ chức. Nội dung văn bản phải nêu rõ tên tổ chức, nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển ở Việt Nam, tôn chỉ, mục đích, phạm vi hoạt động, số lượng tín đồ của tổ chức vào thời điểm đăng ký, dự kiến nơi đặt trụ sở, nơi thờ tự của tổ chức.

- Giáo lý, giáo luật và bản tóm tắt nội dung giáo lý, giáo luật.

- Danh sách dự kiến những người đứng đầu tổ chức, những người này phải là công dân Việt Nam, có đủ năng lực hành vi dân sự (có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình) và có uy tín trong tổ chức.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ và cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho tổ chức được quy định như sau:

- Ban Tôn giáo Chính phủ tiếp nhận hồ sơ và xem xét, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho tổ chức có phạm vi hoạt động tôn giáo ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

- Cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cấp tỉnh (Ban Tôn giáo hoặc Phòng Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ) tiếp nhận hồ sơ và xem xét, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho tổ chức có phạm vi hoạt động tôn giáo chủ yếu ở một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Khi nhận được hồ sơ hợp lệ của tổ chức, Ban Tôn giáo Chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra, thẩm định hồ sơ. Nếu hồ sơ có đủ các giấy tờ nêu trên, nội dung văn bản đăng ký hoạt động tôn giáo rõ ràng, có đủ cơ sở chứng minh tổ chức đó là tổ chức tôn giáo; nội dung giáo lý, giáo luật không trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc; danh sách dự kiến nhân sự đứng đầu tổ chức đáp ứng quy định của pháp luật thì trong vòng 60 ngày đối với trường hợp thuộc thẩm quyền của Ban Tôn giáo Chính phủ, 45 ngày đối với trường hợp thuộc thẩm quyền của tỉnh, các cơ quan này có trách nhiệm trả lời tổ chức tôn giáo.

Câu 19. Tổ chức được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo có quyền và trách nhiệm như các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận không?

Trả lời:

Chỉ có tổ chức tôn giáo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận mới được hưởng đầy đủ quyền của một tổ chức tôn giáo. Những tổ chức được đăng ký hoạt động tôn giáo nhưng chưa được công nhận là tổ chức tôn giáo chỉ có quyền thực hiện một số hoạt động sau:

- Tổ chức các cuộc lễ tôn giáo, thực hiện lễ nghi, truyền đạo, giảng đạo tại cơ sở tôn giáo đã đăng ký.

- Bầu cử, suy cử những người lãnh đạo tổ chức.

- Được mở lớp bồi dưỡng giáo lý.

- Được sửa chữa, cải tạo, nâng cấp công trình thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo.

- Được hoạt động từ thiện, nhân đạo.

Về trách nhiệm, khi thực hiện các hoạt động tôn giáo nêu trên, tổ chức phải tuân thủ các quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01-3-2005 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Chẳng hạn việc giảng đạo, truyền đạo phải được thực hiện tại cơ sở tôn giáo đã đăng ký; trường hợp chưa có cơ sở tôn giáo (chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất) thì phải đăng ký nơi sinh hoạt với chính quyền cơ sở. Khi sửa chữa, cải tạo công trình tôn giáo phải tuân thủ quy định của pháp luật về xây dựng.

Câu 20: Khi nào cơ quan Nhà nước có thẩm quyền từ chối cấp đăng ký?

Trả lời:

Ban Tôn giáo Chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cấp tỉnh có quyền từ chối cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho tổ chức nếu:

- Hồ sơ không đầy đủ.

- Văn bản đăng ký chưa đủ cơ sở chứng minh đó là một tổ chức tôn giáo.

- Nội dung giáo lý, giáo luật trái với pháp luật, trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc.

- Người đứng đầu tổ chức không phải là công dân Việt Nam, không đủ năng lực hành vi dân sự, không có uy tín trong tổ chức.

Khi không có đủ cơ sở cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho tổ chức, Ban Tôn giáo Chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời tổ chức xin cấp đăng ký bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối cấp đăng ký.

 

Hỏi - đáp pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo (Phần 1)

Câu 1. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định như thế nào?

Trả lời:

Điều 70 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 (sau đây gọi là Hiến pháp hiện hành) quy định:

“Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”.

Câu 2. Hiện nay có những văn bản quy phạm pháp luật nào điều chỉnh hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta?

Trả lời:

Để cụ thể hóa Hiến pháp hiện hành và Nghị quyết số 25/2003/NQ-TW ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo:

- Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004.

- Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01-3-2005 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.

- Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04-02-2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin lành.

Ngoài các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đã nêu trên còn nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có nội dung điều chỉnh hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo như: Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, các văn bản pháp luật về đất đai, các văn bản pháp luật về xây dựng, pháp luật về di sản văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về hành chính, pháp luật về khiếu nại - tố cáo, v.v..

Câu 3. Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo và không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau có quyền bình đẳng trước pháp luật không?

Trả lời:

Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lựa chọn việc theo hoặc không theo một tôn giáo nào, thay đổi hoặc từ bỏ một tôn giáo. Không ai được ép buộc, cản trở việc lựa chọn tôn giáo của công dân.

Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo và không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng khác nhau đều có quyền bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện mọi nghĩa vụ công dân. Mọi hành vi phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo đều được coi là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm cấm.

Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau, không được bài xích, xúc phạm nhau, xúc phạm tổ chức tôn giáo khác làm ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Câu 4. Các tôn giáo được Nhà nước công nhận về tổ chức có được bình đẳng trước pháp luật không?

Trả lời:

Các tôn giáo ở Việt Nam được Nhà nước thừa nhận (công nhận về tổ chức) đều được Nhà nước tôn trọng và đều bình đẳng trước pháp luật.

Câu 5. Cơ sở tôn giáo là gì? Tài sản thuộc các cơ sở tôn giáo được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời:

Cơ sở tôn giáo là những nơi sử dụng vào việc thờ tự, tu hành, nơi đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận.

Nơi thờ tự, tu hành bao gồm: chùa, niệm phật đường, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, tu viện,... thuộc tổ chức tôn giáo.

Nơi đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo bao gồm: Học viện, Trường Cao đẳng, Trường Trung cấp Phật học, Đại chủng viện của đạo Công giáo, Viện Thánh kinh thần học của đạo Tin lành;...

Chùa, niệm phật đường, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, trụ sở của tổ chức tôn giáo, nơi đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, kinh bổn, các đồ thờ cúng và các tài sản hợp pháp khác của tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

Câu 6. Quan điểm của Nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo?

Trả lời:

Nhà nước bảo đảm quyền hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật; tôn trọng giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo; giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng nhằm góp phần củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân.

Câu 7. Những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nào bị pháp luật nghiêm cấm?

Trả lời:

Những hành vi lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác bị pháp luật nghiêm cấm.

Câu 8. Thế nào là tín đồ?

Trả lời:

Tín đồ là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận. Một người được gọi là tín đồ không những phải có niềm tin vào một tôn giáo mà còn phải tuân thủ một số quy định trong giáo lý, giáo luật của tổ chức tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận. Việc thừa nhận của tổ chức tôn giáo thông qua những hình thức cụ thể theo quy định của tổ chức tôn giáo, chẳng hạn: để trở thành tín đồ của đạo Phật người đó phải quy y tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) và được Giáo hội Phật giáo cấp cho một loại giấy đó là “chứng điệp”; để trở thành tín đồ của đạo Công giáo người đó phải được chức sắc tôn giáo thực hiện bí tích rửa tội và ghi vào sổ theo dõi; để trở thành tín đồ đạo Tin lành người đó phải đạt một độ tuổi nhất định và được thực hiện lễ Bắp tem[1] theo nghi thức của đạo;...

Câu 9. Tín đồ khi tham gia hoạt động tôn giáo có quyền gì?

Trả lời:

Khi tham gia hoạt động tôn giáo, tín đồ có quyền tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, phục vụ lễ hội, lễ nghi tôn giáo tại gia đình và các cơ sở thờ tự; được học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo.

Câu 10. Tín đồ có trách nhiệm gì khi tham gia hoạt động tôn giáo?

Trả lời:

Khi tham gia hoạt động tôn giáo, tín đồ có trách nhiệm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người khác; thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; tham gia hoạt động tôn giáo phải tôn trọng quy định của cơ sở tôn giáo; không được lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín, dị đoan; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật.



[1]. Nghi lễ rửa tội của đạo Tin lành (BT).

 

Hỏi - đáp về Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Phần 7)

Câu hỏi 50: Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân tối cao?

Trả lời:

Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân tối cao được Hiến pháp năm 2013 quy định như sau:

1. Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác, trừ trường hợp do luật định.

3. Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

Câu hỏi 51: Nhiệm kỳ, nhiệm vụ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án khác được quy định như thế nào?

Trả lời:

Hiến pháp năm 2013 quy định về nhiệm kỳ, nhiệm vụ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án khác như sau:

1. Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án khác do luật định.

2. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Chế độ báo cáo công tác của Chánh án các Tòa án khác do luật định.

3. Việc bổ nhiệm, phê chuẩn, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Thẩm phán và việc bầu, nhiệm kỳ của Hội thẩm do luật định.

Câu hỏi 52: Vai trò, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân được quy định như thế nào?

Trả lời:

Vai trò, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân được Hiến pháp năm 2013 quy định như sau:

1. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.

2. Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định.

3. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Câu hỏi 53: Cơ chế hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân các cấp được quy định như thế nào?

Trả lời:

Hiến pháp năm 2013 quy định về cơ chế hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân các cấp như sau:

1. Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

2. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân.

Câu hỏi 54: Các đơn vị hành chính được quy định như thế nào?

Trả lời:

Hiến pháp năm 2013 quy định về các đơn vị hành chính như sau:

1. Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:

Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương.

Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường.

Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập.

2. Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương và theo trình tự, thủ tục do luật định.

Câu hỏi 55: Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được quy định như thế nào?

Trả lời:

Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định.

Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên.

Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương.

Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó.

Câu hỏi 56: Vị trí, vai trò, chức năng của Hội đồng nhân dân được quy định như thế nào?

Trả lời:

Vị trí, vai trò, chức năng của Hội đồng nhân dân được Hiến pháp năm 2013 quy định như sau:

1. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân địa phương, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

2. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân.

Câu hỏi 57: Vai trò, chức năng của Ủy ban nhân dân được quy định như thế nào?

Trả lời:

Vai trò, chức năng của Ủy ban nhân dân được Hiến pháp năm 2013 quy định như sau:

1. Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

2. Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao.

Câu hỏi 58: Đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định như thế nào?

Trả lời:

Đại biểu Hội đồng nhân dân được Hiến pháp năm 2013 quy định như sau:

1. Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương; liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên Nhân dân tham gia quản lý nhà nước.

2. Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân. Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân. Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị ở địa phương. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quyết kiến nghị của đại biểu.

Câu hỏi 59: Trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội được quy định như thế nào?

Trả lời:

Hiến pháp năm 2013 quy định về trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội như sau:

1. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân động viên Nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương.

2. Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân và được mời tham dự hội nghị Ủy ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan.

Câu hỏi 60: Hội đồng bầu cử quốc gia được quy định như thế nào?

Trả lời:

Hiến pháp năm 2013 quy định về Hội đồng bầu cử quốc gia như sau:

1. Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

2. Hội đồng bầu cử quốc gia gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên.

3. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng bầu cử quốc gia và số lượng thành viên Hội đồng bầu cử quốc gia do luật định.

Câu hỏi 61: Kiểm toán nhà nước được quy định như thế nào?

Trả lời:

Hiến pháp năm 2013 quy định về Kiểm toán nhà nước như sau:

1. Kiểm toán nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.

2. Tổng Kiểm toán nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán nhà nước, do Quốc hội bầu. Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán nhà nước do luật định.

Tổng Kiểm toán nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội.

3. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Kiểm toán nhà nước do luật định.

Câu hỏi 62: Việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp được quy định như thế nào?

Trả lời:

Hiến pháp năm 2013 quy định về việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp như sau:

1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

2. Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp. Thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

3. Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp.

4. Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định.

5. Thời hạn công bố, thời điểm có hiệu lực của Hiến pháp do Quốc hội quyết định.


 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 1 trong tổng số 3