Trang chủ 60 NĂM GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ Để Hà Nội mãi mãi là đất ngàn năm văn hiến

Để Hà Nội mãi mãi là đất ngàn năm văn hiến

Từ lâu, Hà Nội đã trở thành biểu tượng cho các giá trị văn hóa của dân tộc, là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam. Câu thơ khá quen thuộc của Huỳnh Văn Nghệ - một nhà thơ, một vị tướng quân ở đất Nam Bộ: "Từ thuở mang gươm đi mở cõi. Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” đã nói thay tấm lòng của nhân dân cả nước đối với Hà Nội. Mỗi người Việt Nam từ mọi miền đất nước đều có nguyện vọng đến thăm Hà Nội. Du khách nước ngoài đến Việt Nam cũng không thể bỏ qua Hà Nội. Điều đó chủ yếu do vị trí đặc biệt của Hà Nội: là trung tâm chính trị và văn hóa của cả nước.

19- 10-10

Kể từ đầu thế kỷ XI, khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Đại La, đổi Đại La thành Thăng Long, thì Thăng Long đã trở thành “chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước”. Từ đó đến nay, gần 1.000 năm đã trôi qua, Thăng Long vẫn là chốn “thượng đô kinh sư cho muôn đời”.

Từ Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn năm 1010 đến nay, Thăng Long - Hà Nội đã chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử. Nhưng âm thanh chủ đạo vẫn là tiếng nói hào hùng, là hào khí Thăng Long. Chính cái hào khí đó đã tạo nên cái âm vang chung trong bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, và Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cái hào khí đó thực ra cũng là hào khí Đông A, hào khí của dân tộc Việt Nam, một dân tộc thường xuyên được nung nấu bởi khát vọng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Do vị thế đặc biệt của mình là “chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước”, Thăng Long - Hà Nội đã sớm trở thành điểm hội tụ văn hóa của mọi miền đất nước. Lý Công Uẩn đã mang về Thăng Long những giá trị văn hóa của vùng Kinh Bắc vốn là quê hương của mình. Sau thời Lý, văn hóa Thăng Long lại được bổ sung những nhân tố mới kể từ khi triều Lý trị vì ở Thăng Long... Cứ thế, với vị trí là trung tâm chính trị và văn hóa của cả nước, văn hóa Hà Nội đã trở thành bản giao hưởng các giá trị văn hóa của mọi miền đất nước, cố nhiên các giá trị đó đã được nâng cao và có ý nghĩa phổ quát trong mỗi giai đoạn lịch sử.

Nghiên cứu về văn hóa Thăng Long - Hà Nội, một câu hỏi không thể không đặt ra: Gần 1.000 năm qua, Hà Nội đã là nơi hội tụ tài hoa và trí tuệ của cả nước, vậy trong suốt chiều dài lịch sử đó, Hà Nội đã để lại những giá trị văn hóa gì cho hậu thế? Phải chăng, trên đất Hà Nội còn ít các công trình kiến trúc đồ sộ nguy nga. Đúng vậy, đến với Thăng Long - Hà Nội, người ta chỉ có thể bắt gặp các công trình kiến trúc khiêm tốn như Chùa Một Cột, Quốc Tử Giám... Nhưng sức hấp dẫn của văn hóa Hà Nội đối với du khách không vì thế mà giảm bớt. Sức hấp dẫn chủ yếu là ở chiều sâu văn hóa, ở diện mạo tinh thần của người dân Hà Nội. Các diện mạo đó thể hiện trong lối sống, trong cách ứng xử (ứng xử với tự nhiên và ứng xử trong xã hội) của người dân Thủ đô. Nói cách khác, Hà Nội chỉ trở nên hấp dẫn khi mỗi người dân Hà Nội, bằng tài năng và ý chí của mình biết vươn lên làm đẹp cho bản thân, cho gia đình và cho toàn xã hội.

Nói về vẻ đẹp của người Hà Nội, chúng ta thường nói đến nếp sống thanh lịch. Nếp sống đó thực ra ẩn chứa một triết lý sống của người Việt Nam, mà người Hà Nội là tiêu biểu nhất: biết đề cao các giá trị tinh thần hơn các giá trị vật chất, thích quan tâm nhiều đến cái ý nghĩa, cái hương, cái vị của cuộc đời hơn là chạy theo số lượng, chạy theo những giá trị vật chất thực dụng. Cứ nhìn các công trình kiến trúc hiện còn lưu giữ khá nhiều trên đất Hà Nội thì cũng có thể cảm nhận được điều đó. Ai cũng thấy rằng, so với thủ đô nhiều nước thì Hà Nội hầu như không có các công trình kiến trúc quy mô hoành tráng. Nhưng đừng quên là đằng sau những công trình khiêm tốn về kích thước không gian lại chứa đựng một chiều sâu thẳm về tinh thần. Cái chiều sâu thẳm về tinh thần đó chính là khát vọng vươn tới một sự hài hoà, một sự hoàn thiện vô cùng. Chính cái chiều sâu thẳm đó mới là kích thước vĩ đại của văn hóa Thăng Long, văn hóa Việt Nam.

anh Hanoi co gai 2Ảnh minh họa

Tính chất thanh lịch của Hà Nội còn được thể hiện khá rõ nét trong ăn mặc, trong văn hóa giao tiếp và cả trong văn hóa ẩm thực. Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu và nhiều công trình khoa học đã đề cập đến các vấn đề này. Nhìn chung trong giao tiếp và trong ẩm thực, người Hà Nội xa lạ với lối sống xô bồ, lai căng, nhậu nhẹt, bươn chải. Câu ca dao từ xa xưa đã như một sự tổng kết và một lời nhắn gửi tới những người dân Hà Nội:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.

Phải chăng, nhờ truyền thống đó, ngay trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nếp xưa vẫn được lưu giữ trong con người Hà Nội. Nếu ở nơi nào đó, lúc nào đó cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các cuộc giao tiếp thường mang tính thực dụng, người ta đến với nhau chủ yếu không vì nhu cầu giao tiếp tinh thần, mà thường vì câu chuyện làm ăn. Người Hà Nội thì khác. Nhu cầu giao tiếp về tinh thần vẫn là nhu cầu không thể thiếu, dù cuộc sống có biết bao bận rộn. Cũng như vậy, ngay trong cơ chế thị trường, khi các hoạt động dịch vụ được mở rộng, người Hà Nội vẫn cứ thích đãi khách tại nhà. Rõ ràng, người Hà Nội vẫn cố tìm ra cái ý nghĩa tinh thần trong những bữa ăn. Tình cảm của chủ nhà được thể hiện ngay cả khi chuẩn bị bữa ăn và trong khi tiếp khách tại nhà.

Hà Nội từ lâu vẫn tự hào là nơi có trường đại học đầu tiên của cả nước, là trung tâm đào tạo nhân tài cho cả nước. Những văn bia ghi tên các tiến sĩ của cả nước được đào tạo tại Quốc Tử Giám qua nhiều triều đại, cùng với những chữ vàng ghi tại đó “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, đã tô đậm truyền thống văn hiến của Hà Nội và của cả nước.

Từ sau Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn đến nay, Hà Nội đã chứng kiến biết bao sự kiện trầm hùng của lịch sử. Chính cái bối cảnh đó đã tạo nên một sức sống mãnh liệt của văn hóa Việt Nam, mà Hà Nội là tiêu biểu. Cốt lõi của văn hóa đó là chủ nghĩa yêu nước. Ba bản tuyên ngôn độc lập của đất nước đều ra đời từ đất Thăng Long - Hà Nội. Từ câu "Nam quốc sơn hà Nam đế cư..." trong bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt (1077) đến sự khẳng định của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo (1428):

"Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác..."[1]

Và đến Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 năm 1945: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”2, đều thấm đượm tình yêu và lòng tự hào đối với dân tộc. Chính cái chủ nghĩa yêu nước đó đã tạo nên nội dung và bản chất của các hoạt động văn hóa nghệ thuật của Thăng Long - Hà Nội.

Nét nổi bật đầu tiên của văn hóa nghệ thuật Thăng Long là sự gắn bó máu thịt với vận mệnh dân tộc. Toàn bộ văn thơ thời Lý - Trần là sự khẳng định ý thức tự lực tự cường dân tộc, thể hiện tính chất nhân văn và tinh thần phục hưng của dân tộc. Sự xuất hiện chữ nôm từ thời Lý Cao Tông (1209) và được hoàn thiện ở thời Trần với Hàn Thuyên và sau này với Nguyễn Trãi, càng tô đậm bản sắc dân tộc của văn hóa Đại Việt. Thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, văn hóa nghệ thuật Thăng Long - Hà Nội đã chứng kiến sự xuất hiện hàng loạt đỉnh cao văn học viết bằng chữ Nôm: Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm - bản dịch của Đoàn Thị Điểm, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều cùng các truyện Nôm khuyết danh: Phan Trần, Nhị độ mai, Quan âm Thị Kính, Phạm Công Cúc Hoa.

Cũng không nên quên rằng, từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV, ngay tại Thăng Long đã xuất hiện các nhà sử học nổi tiếng như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Phan Phù Tiên mà sự nghiệp của họ gắn với ý thức khẳng định lịch sử của dân tộc.

Những bộ sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tục biên... cho đến nay vẫn là những bộ sách giáo khoa quý báu đối với những ai thiết tha tìm hiểu về lịch sử dân tộc mình. Tên tuổi và sự nghiệp của Lương Thế Vinh, Lê Quý Đôn, Hải Thượng Lãn Ông gắn với đất Thăng Long càng tô đậm thêm tầm trí tuệ của văn hóa Thăng Long. Lương Thế Vinh được coi là nhà toán học đồng thời là nhà lý luận đầu tiên về nghệ thuật kịch hát cổ truyền Việt Nam. Bộ óc bách khoa của Lê Quý Đôn về các lĩnh vực lịch sử, triết học, kinh tế, địa lý, văn chương, và của Hải Thượng Lãn Ông với công trình đồ sộ Y tông tâm lĩnh gồm 63 cuốn, trong đó có đủ cả y lý, bệnh lý, dược lý... mãi mãi là đỉnh cao của nền văn hóa Đại Việt.

Văn hóa Thăng Long không chỉ là đỉnh cao về trí tuệ. Văn hóa Thăng Long còn là đỉnh cao của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Toàn bộ thơ văn Lý - Trần, dù là của nhà Nho, nhà sư hay của vua, chúa, quan lại đều khắc khoải niềm ưu ái đối với thân phận con người, đặc biệt của những người bất hạnh trong xã hội. Chính tại Thăng Long trong bài Bình Ngô đại cáo và trong hàng loạt tác phẩm khác, Nguyễn Trãi đã khẳng định triết lý nhân nghĩa của văn hóa Việt Nam. Khi giai cấp phong kiến Việt Nam đã bộc lộ những hiện tượng suy thoái thì chính các nhà văn hóa tiêu biểu của đất Thăng Long đã gióng lên những tiếng chuông cảnh tỉnh. Đó là tiếng nói của Chu Văn An, của Lê Quát, của Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương... Việc xuất hiện một loạt tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ nhằm đấu tranh cho quyền sống, quyền hạnh phúc của con người ở thế kỷ XIX đều gắn với mảnh đất Thăng Long. Nhiều tác phẩm trong đó đã trở thành mẫu mực trong văn học cổ điển của dân tộc.

Bàn về văn hóa Thăng Long - Hà Nội là bàn về những giá trị tiêu biểu, những đỉnh cao của văn hóa Việt Nam suốt gần 10 thế kỷ qua. Trong suốt chiều dài lịch sử đó, Thăng Long - Hà Nội đã trải qua bao biến động lớn. Nhưng cùng với các biến cố có tác động sâu sắc đến sự hình thành và phát triển của Thăng Long - Hà Nội như việc dời đô từ Hoa Lư về Đại La, việc chiến thắng quân Tống, chiến thắng Nguyên - Mông và chiến thắng quân Minh để tạo nên sự thịnh trị của văn hóa Đại Việt, còn có một biến cố cực kỳ quan trọng. Đó là sự thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu á - Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945. Với biến cố đó, văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa Hà Nội nói riêng bước sang một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên của độc lập - tự do và chủ nghĩa xã hội. Cũng như Thăng Long trước đây, Hà Nội hiện nay vẫn là trung tâm chính trị và văn hóa của cả nước.

Cũng như mấy trăm năm trước, Thăng Long đã sớm trở thành nơi hội nhập văn hóa của mọi miền đất nước. Ngày nay, trong xu thế phát triển của Hà Nội ở thời kỳ lịch sử mới, sự biến động trong cơ cấu dân cư Hà Nội đã và sẽ tiếp tục diễn ra ở một cấp độ lớn hơn. Hà Nội sẽ là nơi cư trú cư dân của nhiều vùng đất nước. Họ sẽ mang về Thủ đô những dáng nét văn hóa của địa phương mình. Cứ nhìn vào đội ngũ cán bộ ở các cơ quan trung ương và của thành phố đã thấy sự hội tụ đó. Vấn đề đặt ra là phải làm gì để khai thác khía cạnh tích cực vốn có trong văn hóa cư dân từ các địa phương mang về Hà Nội để làm phong phú thêm đời sống văn hóa của Thủ đô, đồng thời loại trừ những nhân tố tiêu cực trong đó. Đây là bài toán không đơn giản, nhưng nhất thiết phải được đặt ra.

Cũng cần thấy thêm rằng, trong tình hình hiện nay, khi thế giới đang trải qua những biến động dữ dội, Hà Nội đang thu hút sự quan tâm và khích lệ của nhiều bạn bè trên thế giới, đồng thời cũng là điểm ngắm của những lực lượng phản cách mạng. Trước tình hình đó, Hà Nội phải vươn lên để thực sự trở thành điểm sáng trong việc khẳng định và phát huy sức mạnh của dân tộc và của cách mạng đối với cả nước. Văn hóa Hà Nội phải trở thành điểm tựa vững chắc cho Hà Nội và cho cả nước bước vào thiên niên kỷ mới.

Hà Nội, từ lâu đã là nơi hội tụ tinh hoa của văn hóa dân tộc. ít có địa danh nào lại quy tụ được nhiều chứng nhân lịch sử của đất nước như ở Hà Nội. Điều rất đỗi đáng mừng là gần đây, qua khai quật vài địa danh trên đất thủ đô Hà Nội, các nhà khảo cổ đã làm sống lại một góc của Hoàng Thành với những công trình kiến trúc và cổ vật quý giá. Nếu trước đây không ít các giá trị văn hoá vật thể của Thăng Long - Hà Nội chỉ nằm trong trí tưởng tượng của nhiều người, trong các truyền thuyết và giả thiết, thì ngày nay, dưới ánh sáng của đường lối văn hoá của Đảng, đặc biệt của Nghị quyết Trung ương lần thứ năm (khoá VIII) về văn hoá, các giá trị đó đang từ lòng đất hiện về trước mắt chúng ta với những ánh hào quang rực rỡ. Nơi đây, mỗi mảnh đất, tên đường đều như nhắc lại các chiến công của cha anh, dù là chiến công trên lĩnh vực quân sự, chính trị hay văn hóa. Vấn đề đặt ra là làm sao để những chứng nhân đó của lịch sử sống lại. Nói cách khác, làm sao để con người hiện tại có thể nghe và hiểu tiếng nói, nỗi lòng của người xưa. Không nghe và hiểu được tiếng nói của lịch sử thì làm sao có thể yêu và tự hào về lịch sử.

Cần thiết phải tiến hành giáo dục một cách sâu rộng chủ nghĩa yêu nước, bắt đầu bằng việc giáo dục các truyền thống của dân tộc. Những địa danh: thành Cổ Loa, hồ Hoàn Kiếm, Chương Dương, Ngọc Hồi, Đống Đa, Ba Đình... và bao địa danh khác trên đất Hà Nội đều hàm chứa những nội dung lịch sử quan trọng, đều thể hiện ý chí bất khuất và tài năng của dân tộc. Cùng với các di tích Chùa Một Cột, Quốc Tử Giám.. những tên gọi Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát... đều góp phần làm rạng rỡ lịch sử dân tộc Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ qua, lịch sử và văn hóa Hà Nội đã trải qua một lần thay da đổi thịt. Sau những bước ngoặt lịch sử của những năm 30 và đầu những năm 40 của thế kỷ XX, ngày 2 tháng 9 năm 1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Hà Nội trở thành trung tâm chính trị và văn hóa của nước Việt Nam mới, đặc biệt từ sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội từ Việt Bắc trở về.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới, con người mới diễn ra mạnh mẽ trên đất Hà Nội. Cùng với chủ nghĩa yêu nước truyền thống, tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã được nảy mầm và ngày càng phát triển trong văn hóa và con người thủ đô. Đội ngũ trí thức mới được rèn luyện trong chín năm kháng chiến chống Pháp, từ các địa phương đã mang về Hà Nội một luồng sinh khí mới. Đó là tình yêu và lòng tự hào về dân tộc, tình yêu và lòng tự hào về cách mạng, về Đảng và về Bác Hồ. Tình cảm dân tộc được nâng cao và bổ sung bằng tình cảm quốc tế vô sản. Nhiều chỉ thị, nghị quyết quan trọng của Trung ương Đảng và Chính phủ về các lĩnh vực đời sống nói chung và về lĩnh vực văn hóa nói riêng được ra đời từ Hà Nội. Nhiều đại hội văn hóa, văn học nghệ thuật cũng diễn ra tại Hà Nội. Hà Nội thực sự đã trở thành trái tim của cả nước. Chính trên cái nền tảng tinh thần đó, những giá trị văn hóa mới của Hà Nội đã ngày càng trở nên rực rỡ.

Hơn bất cứ địa phương nào, Hà Nội có một đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ lớn (bao gồm các trí thức văn nghệ sĩ của Trung ương và của Thủ đô), trong đó có những trí thức văn nghệ sĩ đầu đàn mà tên tuổi của họ đã trở nên quen thuộc với mọi người. Nhiều cơ quan khoa học, các viện nghiên cứu, các trường đại học lớn đều tập trung ở Hà Nội. Có thể coi đó là tiềm năng vô tận cho sự phát triển văn hóa của Thủ đô. Gần nửa thế kỷ qua, đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ này đã đóng góp cho Hà Nội và cho cả nước nhiều thành tựu lớn trên tất cả các lĩnh vực giáo dục, khoa học, văn học, kiến trúc, âm nhạc, sân khấu, báo chí...

Cùng với những di tích lịch sử và văn hóa từ xưa để lại, Hà Nội càng tự hào hơn về những di tích, những công trình kiến trúc được ra đời từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đó là Quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945. Cạnh Quảng trường Ba Đình là ngôi nhà sàn lịch sử - nơi Bác Hồ sống và làm việc mấy chục năm qua; là lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - nơi lưu giữ thi hài của người anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất.

Trong xu thế đô thị hóa hiện nay, Hà Nội đã và đang được mở rộng về quy mô và diện tích. Rất nhiều đường phố mới xuất hiện gắn với tên tuổi của các nhà văn hóa lớn và các chiến sĩ cách mạng lỗi lạc, mà sự nghiệp của họ gắn với mục tiêu độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.

45 năm qua, một chặng đường lịch sử chưa dài, nhưng văn hóa Hà Nội đã được bổ sung nhiều giá trị mới.

Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước mắt những người lãnh đạo và nhân dân thủ đô còn ngổn ngang biết bao vấn đề mới và phức tạp. Xu hướng phát triển đô thị đòi hỏi Thủ đô phải mở rộng quy mô, phải mở rộng các đường phố cũ và xây dựng các tuyến đường mới, phải có nhiều trung tâm thương mại và dịch vụ - nghĩa là phải kết cấu lại hạ tầng cơ sở. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để Hà Nội vừa phát triển kinh tế vừa bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của mình. Qua 15 năm đổi mới và phát triển kinh tế, Hà Nội đã dần dần tìm ra hướng đi đúng đắn. Phong trào bảo tồn và tôn tạo các di tích và cảnh quan văn hóa cũng như phong trào xây dựng Thủ đô xanh, sạch, đẹp đã và đang trở thành phong trào quần chúng rộng lớn. Hơn thế nữa, dưới tác động của những nhận thức mới về văn hóa của thời đại và những quan điểm mới về văn hóa của Đảng, người Hà Nội cũng đang dần dần nhận thức ra rằng, để kinh tế Hà Nội phát triển bền vững không thể bỏ qua một nguồn tài nguyên vô tận, một tài sản vô giá mà Hà Nội mãi mãi có quyền tự hào - đó là những giá trị văn hóa của ngàn năm Thăng Long - Hà Nội.

Trong tình hình hiện nay, khi Hà Nội cùng cả nước bước vào thiên niên kỷ mới, Hà Nội cùng cả nước chuẩn bị tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, người Hà Nội càng phải ý thức rõ hơn niềm tự hào và trách nhiệm của mình. Bảo vệ và phát huy văn hóa Thăng Long - Hà Nội chính là bảo vệ và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam, mà đỉnh cao của nó là văn hóa Đại Việt trước đây và văn hóa thời đại Hồ Chí Minh hiện nay.

GS, TS. Trần Văn Bính

Trích trong cuốn "Văn hóa Thăng Long - Hà Nội: Hội tụ và tỏa sáng",

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004



1. Bùi Văn Nguyên dịch dựa theo bản dịch của Bùi Kỷ. Tư liệu tham khảo văn học Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1979, t.2, tr.168.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.4, tr.4.