Trang chủ 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 Công cuộc kháng Nhật cứu nước - Một số đặc điểm

Công cuộc kháng Nhật cứu nước - Một số đặc điểm

Cuối năm 1944, đầu 1945, một nạn đói khủng khiếp đã diễn ra ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, do phát xít Nhật ra sức vơ vét, bóc lột nhân dân Việt Nam để phục vụ Chiến tranh thế giới thứ hai đang bước vào giai đoạn cuối. Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản Đông Dương đã phát động phong trào chiếm kho thóc của Nhật để cứu đói cho dân, đồng thời thúc đẩy phong trào kháng Nhật đi lên. Đặc biệt, từ sau khi phát xít Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp, Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" (3-1945), cao trào kháng Nhật, cứu nước đã diễn ra mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức, là tiền đề tiến tới cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945.

tin-tuc-cach-mang-thang-8 7jpg

Nhân dân Thủ đô vùng lên giành chính quyền trong những ngày Cách mạng Tháng Tám sôi sục. Ảnh: Tư liệu TTXVN.

Các mặt trận kháng Nhật

Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, phong trào kháng Nhật, cứu nước diễn ra mạnh mẽ, dưới nhiều hình thức, tấn công quân Nhật trên nhiều mặt trận. Trên thực tế, Việt Minh (tên gọi tắt của Mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh) đã thực hiện một kế hoạch khởi nghĩa từng phần, làm tiền đề tiến lên tổng khởi nghĩa. Phong trào đã chiếm giữ được nhiều vùng rộng lớn từ tay phát xít Nhật, hình thành nhiều vùng căn cứ, trong đó Khu Giải phóng Việt Bắc (bao gồm địa bàn nông thôn và miền núi các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Phú Thọ, Bắc Giang, Vĩnh Yên, Yên Bái) là căn cứ địa chính của Việt Minh trên toàn quốc.

Các hoạt động quân sự

Khi quân Nhật mở các cuộc càn quét, tấn công vào các vùng Việt Minh, lực lượng vũ trang Việt Minh, chủ yếu là các đội du kích đã chống trả quyết liệt, tiêu biểu là các trận đánh bảo vệ chiến khu Vần (Yên Bái), chiến khu Hiền Lương (Phú Thọ) và chiến khu Trần Hưng Đạo (Đông Triều, Quảng Ninh). Tại Hưng Yên, đêm 11-3-1945, du kích địa phương đã đánh đồn Bần Yên Nhân, chiếm được nhiều vũ khí của địch.

Đấu tranh chính trị và khởi nghĩa từng phần

Tại các đô thị, các phong trào đấu tranh của công nhân, học sinh, viên chức dâng cao. Phong trào công nhân đã có những hình thức đấu tranh như phá hoại kế hoạch sản xuất của Nhật, chế tạo vũ khí, cướp súng, đạn của Nhật để cung cấp cho bộ đội, du kích cách mạng. Công nhân Hà Nội tổ chức cướp súng của Nhật ở Phà Đen, Ngọc Hà. Tại Quảng Yên, công nhân chiếm các mỏ than Mạo Khê, Tràng Bạch, Uông Bí. Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn, công nhân treo cờ, diễn thuyết ở các rạp hát, trường học, trên tàu điện, chỗ đông người để gây thanh thế cho Việt Minh. Tại Sài Gòn và các tỉnh miền Nam, từ tháng 5-1945 xuất hiện phong trào Thanh niên tiền phong, với các hình thức hoạt động công khai nhằm tổ chức, rèn luyện cho quần chúng chuẩn bị chớp thời cơ khởi nghĩa.

Tại khu vực Việt Bắc, Việt Minh quyết định cướp chính quyền ở những nơi đã đủ điều kiện. Hàng loạt các xã, châu, huyện nằm trong sự kiểm soát của Việt Minh.

Tại Bắc Giang, ở nhiều xã, quần chúng biểu tình thị uy, lập ủy ban giải phóng. Việt Minh huy động hàng nghìn quần chúng kéo đi cướp vũ khí của lính đồn, uy hiếp chính quyền thân Nhật, khiến nhiều tri huyện, tri phủ phải bỏ chạy. Toàn bộ huyện Hiệp Hòa, một phần vùng Yên Thế, Phú Bình do quân nổi dậy kiểm soát.

Tại Bắc Ninh, sau đêm Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), Việt Minh đã lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa lập chính quyền ở hai xã Trung Màu và Dương Hút (huyện Tiên Du).

Tại Quảng Ngãi, ngày 11-3-1945, những chiến sĩ cộng sản đang bị giam trong trại giam Ba Tơ đã phá trại, cướp súng, thành lập Đội du kích Ba Tơ. Đội du kích này trở thành lực lượng vũ trang nòng cốt trong cuộc nổi dậy chống Nhật giành chính quyền ở Quảng Ngãi.

Hàng nghìn đảng viên cộng sản đang bị giam trong các nhà tù: Nghĩa Lộ, Sơn La, Hỏa Lò (Hà Nội), Buôn Ma Thuột, Hội An (Quảng Nam), v.v., nhân cơ hội Nhật - Pháp bắn nhau và tình hình hỗn loạn đã nổi dậy phá nhà lao, vượt ngục ra ngoài hoạt động.

Đánh chiếm các kho thóc của Nhật

Khi phong trào khởi nghĩa từng phần lên cao, cũng là lúc diễn ra nạn đói trầm trọng. Nạn đói bắt đầu từ cuối năm 1944, kéo sang hết nửa đầu năm 1945 ở Bắc Kỳ, Bắc Trung Kỳ là một thảm họa khủng khiếp, có liên quan trực tiếp đến chính sách cai trị độc ác của cả Pháp và Nhật, đặc biệt là phát xít Nhật.

Về số lượng người Việt Nam bị chết đói, Toàn quyền Jean Decoux - kẻ đứng đầu chính quyền Pháp lúc đó ở Đông Dương, trong cuốn hồi ký về thời cầm quyền tại Đông Dương, cho biết là có 1 triệu người ở miền Bắc Việt Nam chết đói. Tuy nhiên, một số sử gia Việt Nam sau này, căn cứ vào tài liệu điều tra tại các địa phương, đã khẳng định có hơn 2 triệu người ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ chết đói. Điều cần lưu ý là dân số toàn Việt Nam năm 1945 chỉ có khoảng 25 triệu. Như vậy, tỷ lệ chết đói tới trên dưới 8% dân số toàn quốc, rõ ràng là một con số kinh hoàng. Các địa phương có nhiều người chết đói nhất là các tỉnh Hải Dương, Kiến An, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, trong đó trầm trọng nhất là ở Thái Bình.

Nạn đói là hậu quả tồi tệ của nhiều yếu tố tích hợp lại. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu là do chính sách tước đoạt vô nhân đạo và thái độ tàn nhẫn của phát xít Nhật. Cụ thể, trong suốt 4 năm 1941-1945, Pháp đã phải 4 lần ký hiệp định giao nộp lúa, ngô cho Nhật, với số lượng mỗi năm từ 700.000 đến 1.300.000 tấn, tương đương 50-80% tổng sản lượng lương thực của cả Việt Nam lúc đó. Để phục vụ chiến tranh, Nhật cần rất nhiều nguyên liệu từ những cây có sợi, có dầu như: đay, gai, bông, thầu dầu… nên đã bắt nhiều vùng nông thôn nhổ lúa trồng đay và các loại cây nói trên. Tài liệu thống kê của Pháp cho biết, năm 1944, Việt Nam phải trồng tới 45.000 ha đay, gấp 9 lần diện tích của năm 1940 do 10 công ty độc quyền của Nhật thu mua. Chiến tranh cũng đã làm cho nhu cầu nhiên liệu của Nhật tăng cao, trong khi một số mỏ than lớn bị máy bay Mỹ đánh phá. Do vậy, Nhật đã dùng rất nhiều thóc, ngô đốt thay thế các nhiên liệu công nghiệp để chạy xe lửa và các phương tiện khác.

Một hình ảnh đối ngược là trong khi có hàng chục vạn người chết đói trên khắp các làng mạc Việt Nam, thì các kho chứa lúa gạo của Nhật, Pháp vẫn đầy ắp, các xe lửa của Nhật vẫn sử dụng ngô, thóc để chạy máy. Đó chính là bản án về tội ác của chế độ phát xít Nhật.

Trước tình hình nạn đói hoành hành dữ dội, làm tổn hại đến giống nòi, trong khi tất cả các chính quyền đương thời ở Việt Nam (phát xít Nhật, thực dân Pháp và Chính phủ Nam triều thân Nhật) đều làm ngơ thì Đảng Cộng sản Đông Dương đã đưa ra quyết định lịch sử: Phát động phong trào chiếm kho thóc của Nhật để cứu đói cho dân, đồng thời thúc đẩy phong trào kháng Nhật đi lên. Ngay lập tức, hàng triệu nông dân đã vùng lên, xông tới các kho thóc gạo của Nhật - Pháp để chiếm lấy số lương thực mà bọn xâm lược tích trữ, để cứu sống mình.  

Tại các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, hàng nghìn quần chúng đi phá kho thóc của Nhật, Pháp, thu hàng nghìn tấn thóc gạo. Tại Phú Thọ, trong một thời gian ngắn có 14 kho thóc bị nhân dân chiếm. Tại Ninh Bình, ngày 15-3-1945, nhân dân các huyện Nho Quan, Gia Viễn chiếm 12 kho thóc, thu hàng trăm tấn thóc. Tại Thái Bình, trong tháng 3 và tháng 4-1945, nhân dân các huyện Phụ Dực, Thư Trì, Tiền Hải, Vũ Tiên, Tiên Hưng đã tịch thu 1.000 tấn thóc từ các kho do Nhật tích trữ. Tại Hải Dương, nhân dân chiếm 39 kho thóc và 43 thuyền gạo với 2.000 tấn từ quân Nhật. Tại Hưng Yên, Hòn Gai, Hà Đông, Sơn Tây, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, nhân dân cũng đánh chiếm rất nhiều kho thóc, gạo của Nhật, Pháp. Tại ngoại thành Hà Nội, công nhân và dân nghèo đã chiếm các kho thóc, gạo của Nhật ở các phố Bắc Ninh, Lê Lợi và bến Phà Đen, thu hàng trăm tấn thóc, gạo. Công nhân bến cảng Hải Phòng bí mật phá các kho lương thực ở bến Sáu Kho để nhân dân vào lấy gạo.  Công nhân mỏ than Đông Triều chặn bắt tàu thuyền chở gạo của Nhật chia cho dân nghèo.

Phong trào chiếm kho thóc của Nhật để cứu đói không chỉ cứu một bộ phận dân tộc khỏi cái chết cận kề, mà còn tập hợp quần chúng, rèn luyện cho họ kỹ năng đấu tranh, chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Một số đặc điểm của công cuộc kháng Nhật

Thứ nhất, ngay từ buổi đầu, công cuộc kháng Nhật đã hoàn toàn do Đảng Cộng sản Đông Dương phát động và chỉ đạo, mà không có sự tham gia của bất cứ lực lượng chính trị nào khác.

Ở Việt Nam trước năm 1945, các lực lượng chính trị phi vô sản đều rất non kém. Ngay cả Việt Nam Quốc dân đảng - tổ chức chính trị mạnh nhất trong các đảng phái tư sản Việt Nam cũng đã rời khỏi vũ đài lịch sử kể từ sau khi cuộc Khởi nghĩa Yên Bái (1-1930) của đảng này bị Pháp dập tắt. Bởi thế, sau năm 1930, ở Việt Nam, ngọn cờ lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc gần như tuyệt đối nằm trong tay Đảng Cộng sản Đông Dương, với bộ máy tổ chức chặt chẽ, kỷ luật và đường lối hành động rõ ràng. Cuộc đấu tranh chống phát xít Nhật hoàn toàn do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo.

Cũng cần lưu ý rằng cuộc chiến chống phát xít Nhật ở Việt Nam không có sự tham gia của Pháp, mặc dù Pháp cũng thuộc lực lượng Đồng minh. Lý do, khi Nhật vào Đông Dương thì nước Pháp cũng đầu hàng nước Đức, bởi vậy, chính quyền Pháp ở Đông Dương không đủ sức chống lại Nhật. Không những thế, Pháp còn đồng lõa với Nhật bóc lột nhân dân Việt Nam và đàn áp các phong trào yêu nước Việt Nam.

Thứ hai, từ rất sớm Việt Nam đã đứng về phía Đồng minh chống Nhật. Từ năm 1935, khi chủ nghĩa phát xít trở thành hiểm họa đối với loài người, Đảng Cộng sản Đông Dương, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, đã nghiêm túc thực hiện sự chuyển hướng chỉ đạo cách mạng, từ khẩu hiệu chống đế quốc, giành độc lập cho dân tộc, chuyển sang khẩu hiệu chống nguy cơ phát xít, đòi tự do, dân chủ và hòa bình. Đảng Cộng sản cũng tiên đoán chủ nghĩa phát xít Nhật đang trở thành hiểm họa trực tiếp đối với các dân tộc châu Á, do vậy, việc chuẩn bị đối phó với phát xít Nhật trở thành nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng Đông Dương và khu vực.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, lần đầu tiên Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trước tình hình thế giới có những chuyển biến quan trọng, tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương để hoàn thiện chủ trương đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Tại Hội nghị này, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị thành lập Mặt trận chống Nhật có tên gọi Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), đưa Việt Nam thành một bộ phận của lực lượng đồng minh chống phát xít. Việt Minh đã tích cực hợp tác với Đồng minh, cụ thể là bảo vệ phi công Mỹ bị quân Nhật bắn rơi máy bay trên lãnh thổ phía bắc Việt Nam, chia sẻ thông tin tình hình quân Nhật với người Mỹ ở Côn Minh (Trung Quốc).

Cũng do chuẩn bị sẵn lực lượng và đẩy mạnh cao trào chống Nhật, nên khi thông tin Nhật đầu hàng Đồng minh vừa được công bố, Đảng Cộng sản Đông Dương kịp thời phát động một cuộc tổng khởi nghĩa trên toàn quốc, lật đổ nền cai trị của phát xít Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân vào tháng Tám năm 1945.

Thứ ba, công cuộc kháng Nhật là sự nghiệp của toàn dân, với sự tham gia của mọi tầng lớp, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Mặt trận Việt Minh. Cơ sở của Mặt trận Việt Minh là các tổ chức cứu quốc: Thanh niên Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Nông dân Cứu quốc, Công nhân Cứu quốc, v.v.. Thông qua các tổ chức cứu quốc, Đảng Cộng sản Đông Dương đã phát động phong trào chống Nhật trên toàn quốc.

Thứ tư, công cuộc kháng Nhật được tiến hành đồng thời với cuộc kháng chiến chống ách đô hộ của thực dân Pháp. Chống Pháp là cuộc chiến chống xâm lược bền bỉ và gian khổ nhất của nhân dân Việt Nam ở thời kỳ cận, hiện đại. Sau khi Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương (9-3-1945) thì cuộc chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam vẫn tiếp tục. Do biết lợi dụng mâu thuẫn giữa hai kẻ thù và có một đường lối chiến tranh khoa học nên cuối cùng Việt Nam vẫn giành được thắng lợi.  

Thứ năm, công cuộc kháng Nhật, cứu nước có một tình huống đặc biệt, tạo nên sự thay đổi mang tính đột biến của khí thế cách mạng, đó là cuộc tấn công đánh phá các kho thóc gạo của Nhật để cứu đói, trên toàn Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ.

Nạn đói và chết đói cuối năm 1944, đầu 1945 đã khiến cho mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và chủ nghĩa đế quốc, phát xít lên đến tột độ. Xã hội Việt Nam dưới ách cai trị Nhật - Pháp trở nên nóng rực, chỉ cần một khẩu hiệu đích đáng được tung ra thì ngọn lửa cách mạng sẽ bùng cháy. Vì vậy, khi Mặt trận Việt Minh đưa ra mệnh lệnh: “Phá kho thóc của Nhật, Pháp để cứu đói”, đã thổi bùng lên ngọn lửa từ những người dân nghèo đói, thôi thúc họ xông lên đánh chiếm các kho thóc, gạo của Nhật để tự cứu mình. Phong trào “Phá kho thóc của Nhật” như một vụ nổ long trời dậy đất, không chỉ cứu sống hàng triệu người đói, mà còn mở màn cho một cao trào kháng Nhật. Đỉnh cao nhất của cao trào này chính là cuộc tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, thủ tiêu toàn bộ hệ thống chính quyền Nhật, thiết lập hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân, do nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đứng đầu.

PGS.TS. Phạm Quốc Sử

                                                                             Trưởng Khoa Lịch sử,

                                                              Trường Đại học Thủ đô Hà Nội

(Theo Tạp chí Nhịp cầu Tri thức)