Thời cơ Tháng tám năm xưa

Bảy mươi năm trước, cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám đã bùng nổ sau khi phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng, cách mạng thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một trong những bài học kinh nghiệm quý giá chính là vấn đề nắm bắt đúng thời cơ cách mạng. Thời cơ có yếu tố bất ngờ, không kéo dài về thời gian và chỉ xuất hiện trong một khung cảnh không gian nhất định. Song nó không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà chứa đựng những yếu tố có tính quy luật. Nhận biết đúng quy luật sẽ tạo khả năng đón bắt đúng thời cơ. Thắng lợi năm 1945 của cách mạng Việt Nam là một minh chứng rõ ràng về sự thành công trong dự báo thời cơ và tận dụng thời cơ.

cach mang 1 1

1.Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ ở châu Âu vào tháng 9-1939. Tháng 6-1940, Pháp đầu hàng Đức, xuất hiện phái kháng chiến do De Gaulle đứng đầu. Tháng 6-1941 quân Đức tấn công Liên Xô, tháng 12 năm đó quân Nhật tấn công Mỹ. Cả thế giới bị cuốn hút vào chiến tranh, hình thành hai phe: phe phát xít (Đức, Ý, Nhật) và phe Đồng minh (Anh, Mỹ, Liên Xô).

Ở Đông Nam Á, Việt Nam là địa bàn đầu tiên bị cuốn vào cơn lốc chiến tranh bởi từ tháng 7-1940, quân Nhật đã mở cuộc tấn công Lạng Sơn, buộc chính quyền Pháp phải từng bước nhân nhượng, tạo nên nền thống trị Pháp - Nhật ở Đông Dương.

Vào thời gian đó, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Quảng Tây (Trung Quốc). Được tin nước Pháp đầu hàng phát xít Đức, Nguyễn Ái Quốc nhận định đây là cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam và chủ trương “Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với Cách mạng”1. Từ đất Trung Quốc, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc vượt qua biên giới Việt - Trung ở cột mốc số 108 về Pác Bó (Hà Quảng - Cao Bằng). Người đặt chân lên mảnh đất Tổ quốc sau 30 năm đi khắp năm châu bốn biển tìm đường cứu nước.

Tháng 5-1941, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ tám xác định nhiệm vụ cần kíp của cách mạng Việt Nam lúc này là giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của đế quốc Pháp và phát xít Nhật, thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu, đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân đấu tranh vì nền độc lập của đất nước, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ quốc tế có lợi cho sự nghiệp giải phóng.

2. Tình hình thế giới trong thời gian 1944-1945 đặt ra nhiều cơ hội và thách thức đối với phong trào cách mạng nước ta.

Về cơ hội, chiều hướng thất bại của phe phát xít trên các chiến trường ngày càng rõ nét, nước Ý phát xít bị loại khỏi vòng chiến, nước Đức quốc xã không chống đỡ nổi những cuộc phản công quyết liệt của Hồng quân Liên Xô, buộc phải đầu hàng (tháng 5-1945), nước Nhật quân phiệt nao núng trước những đòn tấn công của Mỹ trên Thái Bình Dương. Trong bối cảnh chung đó, Nhật tiến hành cuộc đảo chính ngày 9-3-1945 để đề phòng sự nổi dậy của Pháp khi quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương. Bộ máy thực dân Pháp tan rã, một bộ phận bị Nhật bắt giam, bộ phận khác bỏ chạy, lẩn trốn ở vùng Thượng Lào hoặc sang vùng Hoa Nam. Vua Bảo Đại ra Tuyên cáo Độc lập (11-3) do Nhật trao nhưng chỉ có ý nghĩa hình thức. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, gồm nhiều trí thức có tinh thần dân tộc nhưng không thể hoạt động vì quyền lực thực tế vẫn trong tay Nhật. Chính phủ này xin từ chức, chỉ tồn tại được 4 tháng (từ ngày 7 tháng 4 đến 7-8-1945). Đến ngày 15-8-1945, dưới sức ép bom nguyên tử của không quân Mỹ thả xuống Hiroshima và Nagasaki cùng cuộc tiến công của quân đội Xôviết ở Mãn Châu, Nhật hoàng phải chính thức tuyên bố chấp nhận Tuyên cáo Potsdam đòi nước Nhật đầu hàng. Như vậy vào giữa tháng 8-1945, quyền lực thống trị ở Việt Nam bị khủng hoảng: Pháp bỏ chạy chưa kịp quay lại, Nhật thất trận, hoang mang cao độ, chính phủ bản xứ đã giải thể.

Trong tình trạng đó, lực lượng cách mạng dưới ngọn cờ Việt Minh phát triển mạnh mẽ, lôi cuốn đông đảo nhân dân thuộc các tầng lớp tham gia. Chính quyền cách mạng được thành lập ở nhiều nơi trên chiến khu Việt Bắc, coi như một sự chuẩn bị cho việc xây dựng chính quyền trên cả nước.

Nhưng mặt khác, phong trào cách mạng cũng đứng trước nhiều thách thức. Nhật Bản tuy đã đầu hàng nhưng quân Nhật vẫn có thể chống lại cuộc nổi dậy của nhân dân. Thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị trở lại tái chiếm Đông Dương. Tướng De Gaulle - người đứng đầu nước Pháp giải phóng - thẳng thừng tuyên bố: “Lập trường của nước Pháp ở Đông Dương rất đơn giản. Nước Pháp khẳng định sẽ thu hồi chủ quyền của mình ở Đông Dương”2. Nhiều đội quân viễn chinh của Pháp lên đường sang Đông Dương với sự trợ giúp của Anh. Với tư cách quân Đồng minh vào Việt Nam phía Nam vĩ tuyến 16, Anh đã cho lính Pháp trà trộn vào những đơn vị của họ. Còn nước Mỹ dưới thời Tổng thống Truman đã có lập trường khác hẳn người tiền nhiệm Roosevelt. Trong bức điện của Bộ Ngoại giao Mỹ gửi Đại sứ của họ ở Trùng Khánh có thông báo: “Nước Mỹ không phản đối và cũng không ủng hộ việc lập lại quyền cai trị của người Pháp ở Đông Dương”3, và ra chỉ thị: “đại diện Mỹ ở Việt Nam phải tuyệt đối trung lập”4. Những người Mỹ đã từng tham gia “đội Con nai” cùng Việt Minh hoạt động ở vùng Tuyên Quang - Thái Nguyên lần lượt trở về nước. Quan hệ hữu hảo Việt - Mỹ mới nhen nhóm liền bị ngưng lại. Các tướng lĩnh Trung Hoa Dân quốc ráo riết chuẩn bị kế hoạch “Hoa quân nhập Việt“, kéo theo bọn Việt Quốc, Việt Cách trở về hòng lập chính quyền tay sai ở Việt Nam. Ngay từ tháng 9-1940, Nguyễn Ái Quốc đã từng cảnh báo các đồng chí của mình đang ở Trung Quốc: “Trong việc giao dịch với Quốc dân đảng không mong chi nhiều. Điều chủ yếu là làm sao cho chúng không cản trở công việc của ta”, “Không trông cậy gì ở họ đâu. Họ sẽ nói như xẻ cửa xẻ nhà cho ta đấy nhưng đang chuẩn bị để nuốt tươi chúng ta. Phải giữ gìn cẩn thận, các đồng chí đang ở trước miệng hùm, nọc rắn cả đấy”5.

Như vậy, cùng một lúc, trên đất nước ta có gần 30 vạn quân lính nước ngoài, bao gồm quân Anh, 1,5 vạn quân Pháp bị Nhật bắt, được Anh thả cùng lực lượng viễn chinh đang vội vã trở lại Đông Dương, 20 vạn quân Tưởng và 6 vạn quân Nhật đã đầu hàng nhưng chưa về nước, rất có thể bị sử dụng làm lực lượng chống cách mạng Việt Nam. Tại Hội nghị Tân Trào, Đảng đã dự báo tình huống này và xác định: “phải tránh cái trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh (Tưởng, Pháp, Anh, Mỹ) tràn vào nước ta và đặt chính phủ của Pháp Đờ Gôn hay một chính phủ bù nhìn khác trái với ý nguyện dân tộc”6.

3. Tình hình trên cho thấy, thời cơ thuận lợi để giành chính quyền chỉ có trong khoảng thời gian rất ngắn, từ khi Nhật đầu hàng đến khi quân Đồng minh tiến vào nước ta (tướng Gracey chỉ huy quân Anh vào Sài Gòn; các tướng Tiêu Văn, Hà Ứng Khâm, Lư Hán chỉ huy quân Tưởng vào Hà Nội).

Trước đó, Đảng đã nhận rõ thời cơ cách mạng đang tới gần. Trong Thư gửi đồng bào toàn quốc tháng 10-1944, Nguyễn Ái Quốc kêu gọi: “Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!”7. Trong hồi ký, Võ Nguyên Giáp kể lại lời căn dặn của Bác Hồ khi Người bị ốm nặng: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”8.

Ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng được triệu tập tại Tân Trào9 đã khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”10. Sau đó, Quốc dân Đại hội họp ngày 16 đã bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ủy ban đã phát lệnh Tổng khởi nghĩa: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”11.

Ngày 19 tháng 8, Hà Nội tiến hành cuộc mít tinh, tuần hành lớn. Chỉ trong một tuần lễ, làn sóng tổng khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân lan nhanh đến các tỉnh, thành trong cả nước, tại Huế ngày 23 tháng 8, tại Sài Gòn ngày 25 tháng 8. Ngày 28 tháng 8, Hồ Chí Minh công bố danh sách Chính phủ lâm thời, ngày 30 tháng 8 Bảo Đại thoái vị, kết thúc chế độ quân chủ, ngày 2 tháng 9 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, chính thức tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Viên sĩ quan tình báo Mỹ A. Patti, một trong số ít người nước ngoài có mặt ở Hà Nội ngay sau ngày Tổng khởi nghĩa đã ghi lại: “chỉ có đại biểu một vài nước lớn trên danh nghĩa Đồng minh đã tận mắt chứng kiến ở Hà Nội dinh thự và nhà cửa dọc theo con đường đều phấp phới đầy rẫy những cờ Việt Minh (…) Chẳng thấy một bóng cờ Pháp. Chỉ có cờ đỏ với ngôi sao vàng năm cánh”12. J. Sainteny, viên sĩ quan tình báo Pháp cũng ghi lại cảm nhận khi từ trên máy bay nhìn xuống Hà Nội cùng dịp đó: “Trong khi máy bay lướt thấp trên vùng trời, chúng tôi nhìn thấy những chùm hoa lạ màu đỏ nở rộ rất nhanh trong thành phố như để đón chúng tôi. Máy bay hạ xuống thấp hơn nữa, lúc đó chúng tôi mới phân biệt được đó là những lá cờ đỏ sao vàng. Chúng tôi nhìn nhau kinh ngạc, hiểu rằng đây không phải là sự đón tiếp mà chúng tôi hy vọng tự đáy lòng”13.

Sau tổng khởi nghĩa tháng Tám, Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập với Nhà nước Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Có nghĩa là nước Nam nay đã có chủ, người chủ đón tiếp các phái bộ Đồng minh, người chủ tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình. Đúng như năm trước, Bác Hồ có dặn: “làm thế nào khi họ “nhập Việt”, chúng ta đã ở ngay trong nước và chúng ta có thể đàng hoàng buộc họ phải nói chuyện với chúng ta”14.

 

4. Nhìn lại sự kiện này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong cái chớp mắt của lịch sử. Đó là khoảng thời gian rất ngắn: từ ngày 13 đến 28-8-1945, từ lúc Nhật tuyên bố đầu hàng tới khi quân Đồng minh kéo vào miền Bắc nước ta. Nếu ta bỏ qua thời cơ này thì cục diện sẽ khác. Việt Nam sẽ vẫn là một nước gồm ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Trước mắt, trên miền Bắc sẽ có một chính phủ thân Tưởng, tại miền Nam, Pháp sẽ phục hồi bộ máy cai trị cũ. Cuộc chiến đấu của nhân dân ta sẽ bị xếp vào những “hoạt động phiến loạn do cộng sản cầm đầu”! Ai biết dòng chảy của lịch sử sẽ đi về đâu, với tốc độ nào”15.

Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa năm 1945, thành công của việc chỉ đạo nắm bắt đúng thời cơ tháng Tám là bài học kinh nghiệm lớn mà mấy năm trước, Bác đã nêu lên trong bài thơ “Đánh cờ”:

Lạc nước, hai xe đành bỏ phí

Gặp thời, một tốt cũng thành công.

(Nhật ký trong tù)

Nắm bắt đúng thời cơ đã đưa cách mạng đến thành công, giành được chính quyền về tay nhân dân. Nhưng bảo vệ được thành quả cách mạng, gìn giữ được chính quyền lại tùy thuộc vào sức mạnh nội tại, vào thực lực của toàn dân tộc. Trong Thông cáo hồi đó, Đảng đã nhắc nhở: “Chú ý rằng: Ta có mạnh thì họ mới chịu “đếm xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy. Nhất là đừng có ảo tưởng rằng: quân Tàu và quân Anh, Mỹ sẽ mang lại tự do cho ta. Không, trong cuộc chiến đấu giải phóng cho ta, cố nhiên là phải kiếm bạn đồng minh dầu rằng tạm thời bấp bênh có điều kiện, nhưng công việc của ta trước hết ta phải làm lấy”16.

Lời căn dặn ấy vẫn mang ý nghĩa thực tiễn cho hôm nay và mai sau.

GS. Vũ Dương Ninh

Đại học Quốc gia Hà Nội

(Theo Tạp chí Nhịp cầu Tri thức)

   *****

1, 14. Vũ Anh: “Những ngày gần Bác”. Dẫn theo Viện Quan hệ quốc tế - Bộ Ngoại giao: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1995, tr. 14, 17.

2. Dẫn theo W.H. Walnwright: “Faits et événements essentiels”, trong cuốn: Le Gé néral De Gaulle et l’Indochine 1940-1946, Ed. Plon. Paris, tr. 67-68.

3, 4, 12. A. Patti: Tại sao Việt Nam?, Nxb. Đà Nẵng, 1994, tr. 368, 360, 169.

5. Tham khảo: Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 31; Hoàng Quốc Việt: Chặng đường nóng bỏng, Nxb. Lao động, Hà Nội, 1985, tr. 270.

6, 10, 11, 16. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 427, 424, 418, 244.

7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 538.

8. Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 196.

9. Kế hoạch ban đầu dự định Hội nghị sẽ họp vào ngày 18 tháng 8 nhưng tối 12, Bác Hồ được nhân viên điện đài của Mỹ thông báo Chính phủ Tokyo đã gửi công hàm cho Chính phủ Mỹ xin chấp nhận Tuyên cáo Potsdam. Ngay tối hôm đó Bác bàn với đồng chí Trường Chinh họp ngay Hội nghị vào ngày 13 tuy mới có 30 đồng chí đại diện cả ba miền Bắc, Trung, Nam (Xem Lê Kim: Đạo quân Nhật Bản ở Việt Nam 1940-1945, Nxb. Quân đội nhân dân, tr. 146-147).

13. J. Sainteny: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 91.

15. Võ Nguyên Giáp: Chiến đấu trong vòng vây, Nxb. Quân đội nhân dân - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1995, tr. 18.