Từ Quy định số 15-QĐ/TW đến Quy định số 224-QĐ/TW: Bước phát triển mới trong tư duy của đảng viên về đảng viên tham gia hoạt động kinh tế

Ngày đăng: 21/10/2026 - 14:10

Qua 20 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW, đến nay, với việc ban hành Quy định số 224-QĐ/TW ngày 14/10/2026, tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về đảng viên tham gia hoạt động kinh tế đã có bước phát triển quan trọng, từ thừa nhận quyền làm kinh tế tư nhân đến khuyến khích, tạo điều kiện để đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh trên cơ sở phân định rõ quyền, giới hạn và trách nhiệm. Quy định số 224-QĐ/TW thể hiện sự đổi mới trong phương thức quản lý, mở rộng không gian tham gia kinh tế hợp pháp, đồng thời tăng cường kiểm soát xung đột lợi ích, bảo đảm liêm chính và kỷ luật của Đảng.

1. Từ thừa nhận quyền đến tạo điều kiện phát huy nguồn lực

Ngày 28/8/2006, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ban hành Quy định số 15-QĐ/TW về đảng viên làm kinh tế tư nhân. Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy của Đảng, chính thức thừa nhận và cho phép đảng viên tham gia làm kinh tế tư nhân trong khuôn khổ quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Sau 20 năm thực hiện, số đảng viên làm kinh tế tư nhân tăng hơn 5 lần, từ hơn 35.000 người năm 2006 lên 187.000 người năm 20261. Nhận thức về vai trò của đảng viên trong phát triển kinh tế tư nhân từng bước được nâng lên. Nhiều đảng viên là doanh nhân, chủ doanh nghiệp, người tham gia quản lý đã đóng góp tích cực vào phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và tham gia các hoạt động an sinh xã hội.

Quy định số 224 là bước phát triển mới trong tư duy của đảng viên về đảng viên tham gia hoạt động kinh tế. Ảnh minh họa.

Tuy nhiên, tiềm năng và nguồn lực của đội ngũ đảng viên chưa được phát huy tương xứng. Hiện nay, số đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm khoảng 4,59% số đảng viên trong các đơn vị kinh tế tư nhân và khoảng 0,15% tổng số đảng viên trong toàn Đảng2. Thực tiễn cũng cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực, Quy định số 15-QĐ/TW đã bộc lộ những hạn chế cần được khắc phục. Phạm vi điều chỉnh chủ yếu tập trung vào đảng viên làm kinh tế tư nhân; quyền, giới hạn và trách nhiệm chưa được phân định đầy đủ theo địa vị pháp lý, chức vụ và vị trí công tác. Phương thức quản lý còn chú trọng hình thức đứng tên, chưa phản ánh đầy đủ quyền chi phối, quản lý, điều hành và lợi ích thực tế. Cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích chưa đồng bộ, trong khi việc tham gia kinh tế tư nhân của đảng viên thuộc khu vực công còn nhiều hạn chế. Trong khi đó, lực lượng đảng viên trong khu vực công chiếm tỷ lệ đáng kể. Đảng viên là viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập chiếm khoảng 20,8% tổng số đảng viên; đảng viên trong khu vực công sau khi thôi giữ chức vụ, nghỉ hưu chiếm khoảng 18,5%. Đây là nguồn lực có chuyên môn, kinh nghiệm và tri thức cần được phát huy phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước.

Bối cảnh mới cũng đặt ra yêu cầu phải đổi mới tư duy quản lý. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò của khu vực kinh tế này trong mô hình phát triển mới. Việc phát huy nguồn lực của đảng viên vì thế không chỉ là vấn đề quản lý nội bộ Đảng, mà còn gắn với yêu cầu huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển kinh tế.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 20 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thống nhất ban hành Quy định số 224-QĐ/TW ngày 14/10/2026 về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh, thay thế Quy định số 15-QĐ/TW. Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, cả về phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc quản lý và phương thức kiểm soát.

Các đại biểu tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

2. Những bước phát triển nổi bật trong tư duy của Đảng

Một là, chuyển từ tư duy “cho phép” sang “khuyến khích, tạo điều kiện”.

Nếu Quy định số 15-QĐ/TW đánh dấu bước chuyển từ việc chưa thừa nhận đầy đủ sang cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân, thì Quy định số 224-QĐ/TW tiến thêm một bước: chủ động khuyến khích, tạo điều kiện để đảng viên phát huy năng lực, nguồn lực, làm giàu hợp pháp, chính đáng và đóng góp cho đất nước.

Sự thay đổi này thể hiện rõ hơn nhận thức về vai trò của đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng viên không chỉ là người chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn có thể trực tiếp đóng góp vào phát triển sản xuất, kinh doanh, đổi mới sáng tạo và tạo ra giá trị cho xã hội. Đặc biệt, việc mở rộng không gian tham gia đầu tư, kinh doanh đối với một số nhóm đảng viên trong khu vực công cho thấy cách tiếp cận linh hoạt hơn, gắn quyền tham gia kinh tế với yêu cầu và điều kiện cụ thể.

Hai là, chuyển từ quy định “được làm, không được làm” sang cơ chế “được làm, được làm có điều kiện, có kiểm soát, không được làm”.

Đây là thay đổi quan trọng về phương thức quản lý. Thay vì chủ yếu xác định các hoạt động được phép hoặc bị cấm, Quy định số 224-QĐ/TW thiết lập các mức độ tham gia khác nhau, gắn với điều kiện và cơ chế kiểm soát tương ứng. Cách tiếp cận này giúp phân biệt rõ hơn giữa hoạt động đầu tư, kinh doanh hợp pháp với những hoạt động có nguy cơ ảnh hưởng đến việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ hoặc phát sinh xung đột lợi ích. Qua đó, vừa mở rộng quyền tham gia làm kinh tế chính đáng, vừa duy trì kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm nêu gương của đảng viên.

Ba là, chuyển từ quản lý theo hình thức sang quản lý theo bản chất và mức độ chi phối.

Trong nền kinh tế hiện đại, việc xác định ai đứng tên doanh nghiệp hoặc tài sản chưa đủ để đánh giá đầy đủ mức độ tham gia kinh doanh. Quy định số 224-QĐ/TW chú trọng hơn đến quyền sở hữu, quyền chi phối, quyền quản lý, điều hành và lợi ích thực tế. Đây là sự đổi mới có ý nghĩa thực tiễn, giúp nhận diện chính xác hơn quan hệ lợi ích, hạn chế tình trạng đứng tên hộ, nhờ người khác thực hiện hoạt động kinh doanh hoặc sử dụng hình thức sở hữu để né tránh các giới hạn. Đồng thời, việc phân định quyền và trách nhiệm theo chức danh, vị trí công tác, chức trách, nhiệm vụ giúp bảo đảm các hạn chế được áp dụng phù hợp với nguy cơ xung đột lợi ích thực tế.

Bốn là, chuyển từ kiểm soát chủ yếu bằng các điều cấm sang chủ động phòng ngừa, nhận diện và xử lý xung đột lợi ích.

Quy định số 224-QĐ/TW đặt yêu cầu kiểm soát xung đột lợi ích thành một nội dung xuyên suốt. Đảng viên phải tuân thủ các giới hạn tương ứng với vị trí, nhiệm vụ được giao; không sử dụng trái quy định tài sản nhà nước, thông tin, dữ liệu, nhân lực, kết quả nghiên cứu và các nguồn lực công để phục vụ lợi ích riêng hoặc lợi ích nhóm.

Đối với đảng viên trong khu vực công, việc đầu tư, kinh doanh không được làm ảnh hưởng đến thực hiện nhiệm vụ; không được đầu tư vào tổ chức kinh tế, lĩnh vực mà mình trực tiếp quyết định, quản lý theo các giới hạn của quy định. Khi phát sinh xung đột lợi ích, đảng viên và cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện trách nhiệm báo cáo, xem xét và áp dụng biện pháp kiểm soát phù hợp. Như vậy, kiểm soát không chỉ dừng ở việc kê khai hoặc xác định điều cấm, mà hướng tới phát hiện và xử lý nguy cơ ngay trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Năm là, kết hợp phát huy vai trò đóng góp vào phát triển kinh tế của đảng viên với giữ vững bản chất, kỷ luật và tính liêm chính của Đảng.

Quy định số 224-QĐ/TW khẳng định việc đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh không làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Quyền tham gia kinh tế phải đi đôi với trách nhiệm chính trị, đạo đức kinh doanh, nghĩa vụ với Nhà nước, xã hội, môi trường, người lao động và người tiêu dùng.

Đồng thời, quy định nhấn mạnh bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản và lợi ích hợp pháp của đảng viên; không để cấp ủy, tổ chức đảng đặt thêm điều kiện, thủ tục hạn chế quyền đầu tư, kinh doanh hợp pháp ngoài quy định. Việc chấp thuận trong nội bộ Đảng cũng không thay thế các điều kiện, trình tự, thủ tục theo pháp luật của Nhà nước. Sự kết hợp giữa bảo vệ quyền hợp pháp và kiểm soát trách nhiệm thể hiện yêu cầu quản lý rõ ràng, minh bạch, vừa tạo điều kiện phát triển, vừa ngăn ngừa việc lợi dụng tư cách đảng viên, chức vụ hoặc quyền lực công để trục lợi.

3. Quy định số 224-QĐ/TW mở rộng quyền, phân định rõ giới hạn theo từng nhóm đảng viên

Quy định số 224-QĐ/TW gồm 3 chương, 14 điều, xác định hoạt động đầu tư, kinh doanh theo phạm vi rộng hơn, bao gồm góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp, thành lập tổ chức kinh tế, thực hiện dự án và hợp đồng đầu tư, hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua bán, nắm giữ chứng khoán và các hình thức khác theo pháp luật.

Một điểm mới quan trọng là phân loại hoạt động đầu tư, kinh doanh thành bốn nhóm: hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập; đầu tư không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý, điều hành; đầu tư có thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành; và đầu tư có tham gia quản lý, điều hành.

Trên cơ sở đó, quyền và giới hạn được quy định theo 6 nhóm đảng viên, gồm: đảng viên ngoài khu vực công; cán bộ, công chức; viên chức; đảng viên đang công tác, phục vụ trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; người quản lý doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước; và đảng viên sau khi thôi giữ chức vụ, thôi công tác hoặc nghỉ hưu.

Đối với đảng viên ngoài khu vực công, quy định cho phép thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh mà pháp luật không cấm, không phải xin chấp thuận của tổ chức đảng. Đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, quyền tham gia được phân định theo vị trí công tác, chức trách và mức độ nguy cơ phát sinh xung đột lợi ích. Một số hoạt động được thực hiện không cần chấp thuận; một số hoạt động phải được cấp có thẩm quyền chấp thuận; các hoạt động có nguy cơ cao hoặc ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ tiếp tục bị giới hạn.

Đáng chú ý là, Quy định mở rộng quyền cho một số cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và không ở vị trí có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích, cho phép thành lập tổ chức kinh tế hoặc đầu tư chi phối khi được chấp thuận. Đối với viên chức, một số trường hợp được mở rộng quyền đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; viên chức không giữ chức vụ quản lý có thể được chấp thuận để tham gia quản lý, điều hành hoặc tạm thời rời vị trí công tác để thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh theo quy định.

Đối với đảng viên trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, việc mở rộng quyền phải gắn chặt với yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đối với người quản lý doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước, yêu cầu trọng tâm là tách bạch lợi ích cá nhân với trách nhiệm quản lý, đại diện vốn nhà nước. Đối với đảng viên sau khi thôi giữ chức vụ, thôi công tác hoặc nghỉ hưu, quy định tạo điều kiện phát huy chuyên môn, kinh nghiệm và nguồn lực hợp pháp, đồng thời duy trì các giới hạn cần thiết liên quan đến lĩnh vực, công việc đã phụ trách theo pháp luật.

Cách phân loại này khắc phục phần nào tính đồng nhất trong phương thức quản lý trước đây, tạo cơ sở để áp dụng giới hạn đúng đối tượng, đúng mức độ rủi ro, tránh hạn chế không cần thiết đối với hoạt động kinh tế hợp pháp.

*

*     *

Từ Quy định số 15-QĐ/TW năm 2006 đến Quy định số 224-QĐ/TW năm 2026, tư duy của Đảng về đảng viên tham gia hoạt động kinh tế đã phát triển từ thừa nhận quyền làm kinh tế tư nhân sang khuyến khích, tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư, kinh doanh đa dạng; từ quản lý chủ yếu bằng các giới hạn chung sang phân định quyền, điều kiện và trách nhiệm theo vị trí công tác, mức độ chi phối và nguy cơ xung đột lợi ích. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi điều chỉnh của một quy định về đảng viên, mà còn là đổi mới phương thức quản lý theo hướng rõ quyền, rõ trách nhiệm, tăng cường phòng ngừa rủi ro và bảo vệ hoạt động kinh tế hợp pháp.

Thực hiện hiệu quả Quy định số 224-QĐ/TW sẽ góp phần phát huy năng lực, kinh nghiệm và nguồn lực của đội ngũ đảng viên, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, đồng thời giữ vững kỷ luật, kỷ cương và tính liêm chính của Đảng. Đó là yêu cầu quan trọng để kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

ThS. Phạm Thị Thinh

Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc - Phó Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật

 


1, 2. Xem Bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, ngày 16/10/2026 (https://danviet.vn/ong-nguyen-thanh-nghi-sau-20-nam-so-dang-vien-lam-kinh-te-tang-hon-5-lan-len-187000-nguoi-d1467615.html).

Bình luận