Quá trình ra đời và phát triển của nền xuất bản cách mạng Việt Nam (P1: Bối cảnh chung)

Ngày đăng: 16/01/2012 - 01:01

Sự ra đời của xuất bản cách mạng do nhu cầu tất yếu của cuộc cách mạng đánh đuổi đế quốc, đánh đổ phong kiến, giành độc lập dân tộc; đồng thời, sự ra đời của xuất bản cách mạng cũng gắn liền với những tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc trong những năm tháng Người hoạt động ở nước ngoài từ năm 1920 đến trước khi thành lập Đảng. Những ấn phẩm được xuất bản và đưa về nước như Bản yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Vécxây (1919), Bản án chế độ thực dân Pháp (1920), Con rồng tre (1922), Đường Cách mệnh (1927)... là những tác phẩm đặt nền móng cho sự nghiệp xuất bản cách mạng Việt Nam, đồng thời là kim chỉ nam cho quá trình phát triển sự nghiệp đó những năm sau.

asachxuatban

Vì thế, khi nghiên cứu về quá trình ra đời và phát triển của xuất bản cách mạng Việt Nam, có thể khẳng định, một dòng xuất bản theo khuynh hướng cách mạng ở Việt Nam đã xuất hiện khá sớm, ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam chưa thành lập. Nền xuất bản đó tiếp tục hình thành và phát triển mạnh mẽ, cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tuy nhiên, với tư cách là một nền xuất bản, trong chương này, nhóm tác giả đưa những hoạt động của xuất bản cách mạng trước năm 1945 vào bối cảnh ra đời của nền xuất bản cách mạng, để coi đó là tiền đề cho sự hình thành của nền xuất bản của nước Việt Nam mới độc lập, tự chủ. Nền xuất bản cách mạng đó được tính mốc khởi điểm từ năm 1945 với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cùng với nó là sự xuất hiện của ba nhà xuất bản cách mạng đầu tiên ngay trong năm 1945: Nhà xuất bản Lao động, Nhà xuất bản Sự thật, Nhà xuất bản Văn hóa cứu quốc.

I. BỐI CẢNH CHUNG

1. Ở Việt Nam, nghề xuất bản đã xuất hiện từ lâu, ngay từ thời cổ, trung đại, cùng thời với việc chữ Hán du nhập và trở thành phương tiện ghi chép, học tập. Việt Nam đã sớm chế tạo ra giấy và nghề khắc ván in cũng có từ thời Lý với việc in các bộ kinh Phật. Đến giữa thế kỷ XV, Lương Như Hộc - người Hồng Liễu, huyện Gia Lộc, Hải Dương đi sứ nhà Minh học được nghề khắc ván in và dạy cho dân Hồng Lục và Liễu Chàng. Từ đó nghề khắc ván in tiếp tục phát triển và mở rộng ở thế kỷ XVII và XVIII. Đến giữa thế kỷ XIX, triều Nguyễn đã tổ chức biên soạn, khắc in và xuất bản nhiều bộ sách lớn chữ Hán thuộc các thể loại khác nhau: pháp luật, lịch sử, địa lý, triết học, toán, y học, ngôn ngữ, trong đó có những bộ sách có giá trị lớn như Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1782-1840) được đánh giá là “bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam”. Cùng với những cơ sở in của triều đình Huế, nhiều phường in tư nhân, cơ sở in của nhà chùa... cũng phát triển mạnh mẽ. Ở Hà Nội có: Liễu Vân Đường, Cẩm Văn Đường, Thịnh Văn Đường, Đa Văn Đường, Đồng Văn Đường... Ở các tỉnh phía Bắc có: Hải Học Đường (Hải Dương), Hương Trà Hội (Hải Phòng), Minh Thiện Đàn (Bắc Ninh), Phương Lan Đàn (Phúc Yên), Tỉnh Thiện Đường (Hưng Yên), Tư Am Tự (Bắc Giang), Thiên Hương Tự (Thái Bình), Vạn Tuế Tự (Hà Đông), Bảo Khánh Tự (Nam Định), Châu Long Tự (Sơn Tây). Đánh giá về nghề xuất bản và in ở Việt Nam thời kỳ phong kiến, một số nhà sử học nước ngoài đã cho rằng “là hơn bất kỳ một xã hội cổ truyền nào ở vùng Đông Nam Á”.

2. Cuối thế kỷ XIX, đặc biệt từ nửa đầu thế kỷ XX, để phục vụ bộ máy cai trị, thực dân Pháp đã xây dựng một số cơ sở in hoạt bản mà cơ sở chính thức đầu tiên được thành lập tại Sài Gòn (1861) thuộc Tổng hành dinh quân đội viễn chinh. Cũng từ đây, đi cùng với sự phát triển và phổ biến của chữ quốc ngữ, bên cạnh các nhà in của thực dân Pháp, các nhà xuất bản tư nhân công khai, hợp pháp mà không ít cơ sở được chính quyền thực dân bảo trợ, dung dưỡng, dần phát triển.

Sự vận động và phát triển của xuất bản nước ta giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến trước năm 1945 gắn bó chặt chẽ với nhu cầu mới của xã hội Việt Nam, với các điều kiện và sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, là sự phản ánh trực tiếp mâu thuẫn xã hội Việt Nam thời kỳ này, từ đó hình thành những khuynh hướng xuất bản khác nhau, trong đó, dòng hợp pháp, công khai chứa đựng nhiều mâu thuẫn, xung đột, biến đổi phức tạp, có khuynh hướng nô dịch, phát ngôn cho thực dân Pháp và cả khuynh hướng dân tộc, yêu nước. Trong dòng chảy phức tạp, đan xen, tác động lẫn nhau của các khuynh hướng đó, xuất bản cách mạng ra đời và dần khẳng định vị trí quan trọng, có sức thu hút, tập hợp đội ngũ, góp phần xây dựng cơ sở cho sự phát triển của xuất bản cách mạng sau năm 1945.

Tuy nhiên, sự bùng nổ mạnh mẽ của các cuộc cách mạng, đặc biệt là Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển tư tưởng, đấu tranh tư tưởng và các cuộc vận động canh tân yêu nước ở Việt Nam. Xã hội Việt Nam đã có những biến đổi sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực. Trước hết, đó là sự biến đổi của kinh tế, từ nền kinh tế phong kiến thành nền kinh tế thuộc địa chỉ với sự tập trung vào công nghiệp khai thác và công nghiệp nhẹ, đồng thời tiếp tục duy trì kinh tế phong kiến. Đặc điểm mới đó đã tác động sâu sắc và tạo ra những biến động mạnh trong kết cấu xã hội. Xã hội phong kiến phương Đông đã bị tấn công bởi những quan hệ mới và sự xuất hiện những giai tầng mới. Hệ thống giao thông phát triển, nhiều khu công nghiệp mới, nhiều thị trấn, thị tứ mọc lên. Cuộc sống nơi đô thị đã thu hút nhiều nhà nho ra thành phố. Cuộc sống và mối quan hệ mới đã “thành thị hoá, tiểu tư sản hoá’’ một lớp các nhà nho trẻ. Cái mới tập trung ở đô thị, nhưng không chỉ đóng khung ở thành thị, mà bắt đầu làm đổi thay cả cuộc sống ở nông thôn, tấn công vào những quan hệ và những con người vốn trung thành với cái cổ truyền, cái xưa cũ.

Đất nước đã rơi vào tay thực dân Pháp. Vấn đề đặt ra cho mọi người dân, nhất là tầng lớp thanh niên trí thức là phải đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc, đồng thời phải canh tân để phát triển theo kịp các nước văn minh. Vấn đề cứu nước, vấn đề duy tân được đặt ra cấp bách. Phải động viên, đoàn kết toàn dân, đồng thời phải duy tân mới đánh thắng đế quốc Pháp xâm lược, giải phóng dân tộc. “Không phải duy tân và yêu nước không dễ kết hợp với nhau. Không dễ dứt bỏ cái của cha ông, của dân tộc, của thánh hiền, để theo cái mới. Có người ghét Pháp cự tuyệt mọi cái mới. Có người cho duy tân là tất cả; lầm lẫn những việc Pháp làm cũng là duy tân. Duy tân là cả một cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa cái dân tộc và cái phản dân tộc.

Trong cuộc đổi thay như vậy - một cuộc đổi thay mà bất cứ một cuộc bể dâu nào trước đây cũng không thể so sánh - có nhiều con người khác trước, nhiều quan hệ khác trước, nhiều chuyện khác trước’’[1]. Nền văn học hiện đại hình thành trên cơ sở của sự phát triển các đô thị lớn, sự hình thành giai cấp tư sản và giai cấp công nhân cùng một lớp công chúng tiểu tư sản trí thức thành thị đã tiếp thu ít nhiều văn hoá phương Tây. Tất nhiên, đi vào quỹ đạo hiện đại thì nó là một chất lượng mới với một đội ngũ nhà văn mới, quan điểm thẩm mỹ mới, thi pháp mới khác với văn học trung đại.

Nửa đầu thế kỷ XX, bất chấp ách nô dịch của thực dân Pháp, với sự chuyển mình của toàn xã hội thông qua các cuộc vận động duy tân, các phong trào yêu nước và tinh thần độc lập dân tộc, nền quốc văn mới đã hình thành và bắt đầu phát triển. Nền quốc văn ấy đã được làm giàu lên, phong phú thêm bởi nguồn từ vựng mới. Ngữ vựng phản ánh cái mới trong đời sống  đã ngày càng nhiều thêm. Sự phát triển của báo chí phụ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật in. Do vậy, sự xuất hiện các nhà in theo kỹ thuật hiện đại, sự chuyển đổi của nghề in từ kỹ thuật khắc chữ rời thực sự là một cuộc cách mạng. Cuộc cách mạng đó đã tạo cơ sở cho sự phát triển của báo chí và văn học. Hoạt động xuất bản đã có một bước chuyển rất căn bản với sự gắn bó giữa người sáng tác, biên khảo, biên tập, in ấn và phát hành.

Nhiều thư xã xuất hiện ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn xuất bản sách báo tuyên truyền cho tinh thần yêu nước, canh tân dân tộc như Nam Đồng thư xã, Cường Học thư xã, Duy Tân thư xã, Giác Quần thư xã... Một số tác phẩm của họ đã có tiếng vang trong nhân dân hồi đó như Chiêu hồn nước của Phan Tất Đắc, Một bầu tâm sự của Trần Huy Liệu, Bút quan hoài của Trần Tuần Khải, Tiếng quốc kêu của Việt Quyên...  Cùng với việc cho ra đời những tập sách khích lệ tấm lòng yêu nước thương nòi, Quan hải tùng thư ở Huế đã bắt đầu biên dịch những tập sách có khuynh hướng mácxít.

Mặc dù thực dân Pháp và triều đình Huế đã ra nhiều đạo dụ để tịch thu, cấm lưu hành và tàng trữ những tác phẩm kể trên, cũng như một số tác giả đã bị giam cầm, tù tội, nhưng những sách báo ái quốc và dân chủ vẫn tiếp tục được xuất bản và được nhân dân hoan nghênh nhiệt liệt giữa lúc phong trào đấu tranh đương lan rộng. Bên cạnh các nhà xuất bản công khai, hợp pháp mà trong đó không ít cơ sở được chính quyền thực dân bảo trợ, dung dưỡng, dần dần đã xuất hiện các nhà xuất bản và báo chí cách mạng hoạt động bí mật, bất hợp pháp, chủ yếu của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Các ấn phẩm cách mạng Việt Nam xuất bản ở nước ngoài (Pháp, Trung Quốc, Liên Xô và cả ở Đông Bắc Thái Lan) đã được chuyển về bằng nhiều đường khác nhau. Sách báo của Đảng Cộng sản Pháp cũng đã được đưa vào Việt Nam và Đông Dương, trong đó có những tác phẩm lớn của Lênin như Làm gì, Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản... Sách báo cách mạng xuất bản ở Trung Quốc cũng được đưa vào nước ta, đặc biệt sách bằng tiếng Trung Quốc viết về Cách mạng Tháng Mười Nga, về chủ nghĩa Mác - Lênin.

Ngay từ đầu, kiên trì thực hiện nguyên tắc sách báo cách mạng không chỉ là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể mà còn là người tổ chức tập thể, chỉ đạo thực hiện những nhiệm vụ cách mạng mà còn là hình thức tổ chức nối kết cơ quan của Đảng với quần chúng, hoạt động xuất bản đã nỗ lực vươn lên vì phải hoạt động chủ yếu trong điều kiện bí mật, vô cùng thiếu thốn. Những tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc khi đang hoạt động ở nước ngoài lần lượt được xuất bản và đưa về nước trong thời gian từ năm 1920 đến trước khi thành lập Đảng đã có tác dụng to lớn, có tính chất quyết định đối với sự hình thành xuất bản cách mạng. Bản án chế độ thực dân Pháp, Con rồng tre, Đường cách mệnh, Nhật ký chìm tàu, cùng những tờ báo do Người sáng lập và dìu dắt như Người cùng khổ, Việt Nam hồn, Thanh Niên, Thân Ái... là những tác phẩm đặt nền móng cho sự nghiệp xuất bản cách mạng Việt Nam. Bản án chế độ thực dân Pháp, được Nguyễn Ái Quốc viết từ năm 1920 và in lần đầu năm 1925, là bản cáo trạng đanh thép đối với chủ nghĩa đế quốc nói chung và thực dân Pháp nói riêng. Trong tác phẩm này, lần đầu tiên Người vạch rõ chủ nghĩa tư bản là kẻ thù của nhân dân “chính quốc’’ và nhân dân “thuộc địa’’, còn nhân dân Pháp - đặc biệt là giai cấp công nhân - là người bạn chiến đấu của nhân dân ta.

Đường cách mệnh tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc trong các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (Trung Quốc) từ năm 1925, và được Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông xuất bản năm 1927. Bằng những kinh nghiệm lịch sử quý báu kết hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam, tác phẩm đã đề ra những nội dung cơ bản của cách mạng ở Việt Nam, góp phần giải quyết sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước lúc đó. Một trong những mục đích của cuốn sách là “Đem lịch sử cách mệnh các nước làm gương cho chúng ta soi’’[2].

Một trong những tác phẩm tiêu biểu trước năm 1945 của Nguyễn Ái Quốc là Lịch sử nước ta, được Người viết năm 1941 khi đang ở Việt Bắc trực tiếp chỉ đạo cuộc vận động giải phóng dân tộc. Lịch sử nước ta theo thể thơ lục bát gồm 210 câu và một bảng ghi những năm quan trọng. Tác phẩm được Bộ Tuyên truyền của Mặt trận Việt Minh xuất bản và phát hành đến tận các cơ sở quần chúng vào đầu năm 1942.

3. Cùng với việc xuất bản báo chí cách mạng, ngay từ năm 1930, Trung ương Đảng còn tổ chức ấn hành nhiều tài liệu tuyên truyền khác, trong đó có cuốn Ngày quốc tế đỏ mồng một tháng Tám do Ban cổ động và tuyên truyền của Đảng Cộng sản ấn hành năm 1930[3]. Cuốn sách giới thiệu Quốc tế Cộng sản trong Đại hội lần thứ VI đã quyết định lấy ngày 1-8 là ngày Quốc tế đỏ (ngày 1-8-1914 là ngày khởi đầu của Chiến tranh thế giới thứ nhất). Cuốn sách phân tích nguyên nhân và diễn biến của Chiến tranh thế giới thứ nhất, nghĩa vụ của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức phải đánh đổ giai cấp tư sản, lập ra chuyên chính vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội thì mới chấm dứt được các cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa tư bản. Cuốn sách nêu rõ mục tiêu và những khẩu hiệu chính của cách mạng Việt Nam nhân kỷ niệm ngày Quốc tế đỏ 1-8-1930.

Ký sự dài kỳ “Ba năm ở Nga Xôviết” của Trần Đình Long bắt đầu đăng trên tờ Hà Thành thời báo và tờ Tin Tức. Trần Đình Long là nhà báo, nhà văn, nhà hoạt động cách mạng, tham gia phong trào cách mạng của Đảng Cộng sản Pháp và được Đảng Cộng sản Pháp cử sang học tại Trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) từ năm 1928 đến 1931, sau đó về hoạt động ở Hà Nội và Sài Gòn. Ký sự “Ba năm ở Nga Xôviết” giới thiệu về nước Nga, về Trường Đại học Phương Đông, về Hồng quân Liên Xô, v.v.. Những hình ảnh, sự việc cụ thể về nước Nga được giới thiệu chân thật, sinh động, khác lạ với những gì được biết về phương Tây thời đó.

Biên tập, xuất bản tài liệu, sách báo cách mạng để làm tài liệu học tập, tuyên truyền, giác ngộ cách mạng trong các nhà tù đế quốc là một đặc điểm hiếm có trong quá trình phát triển sự nghiệp xuất bản cách mạng. Có những bản sách chỉ rộng bằng ba ngón tay, tương đương khổ rộng của tờ giấy cuốn thuốc lá, song có thể truyền tay nhau đọc. Những “sách” này phải viết bí mật để không bị lộ. Từ năm 1930 đến 1936 đã có những tác phẩm được xuất bản theo kiểu đó như Tình hình Tàu, Vấn đề Tổ quốc, Cộng sản vấn đáp, Chủ nghĩa Lênin, Vấn đề dân tộc, Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Nhật ký chìm tàu...

Năm 1938, Đông Dương thư xã ở Mỹ Tho ấn hành tập truyện ngắn Tình trong tù của Ngũ Yến (Nguyễn Văn Nguyên), gồm sáu truyện đã đăng trên tờ Dân quyền, tả thực về cuộc sống của tù chính trị trong nhà tù Côn Đảo. Tác phẩm góp phần tố cáo chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc.

Năm 1938, tập hồi ký có tính chất phóng sự điều tra Ngục Kon Tum của nhà cách mạng Lê Văn Hiến được xuất bản công khai trong thời kỳ Mặt trận dân chủ. Ngục Kon Tum tố cáo trước dư luận tội ác của thực dân Pháp đối với chính trị phạm ở Đông Dương, góp tiếng nói đấu tranh trong phong trào dân chủ đương thời. Tác phẩm đã được dư luận trong và ngoài nước chú ý. Đặng Thai Mai đã dịch đăng trên tờ Le Travail (Lao động) của Đảng Cộng sản Đông Dương. Thực dân Pháp đã ra lệnh cấm cuốn sách này.

Ngục Kon Tum là bài ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà tác giả và những nhân vật, sự kiện trong tác phẩm đều là tấm gương sáng chói của những người cộng sản Việt Nam. Ngục Kon Tum là một trong những tác phẩm tiêu biểu đánh dấu thành tựu của trào lưu văn học và của xuất bản cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

Năm 1939, Tập sách Dân chúng xuất bản cuốn Vượt ngục của Cựu Kim Sơn (Văn Tân). Sách kể về câu chuyện của bảy chiến sĩ cộng sản vượt ngục Hoả Lò ngày 24-12-1932. Trong cuốn sách tác giả đã vạch trần tội ác và những thủ đoạn ngược đãi tù nhân của thực dân Pháp, ca ngợi tinh thần quả cảm và mưu trí của những chiến sĩ cộng sản trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Cũng trong năm 1939, các ứng cử viên cộng sản và dân chủ thuộc nhóm Dân chúng không giành được chiến thắng trong cuộc tranh cử Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ. Sau sự kiện này, trong nội bộ Đảng và trong quần chúng đã bộc lộ nhiều quan điểm khác nhau về nguyên nhân dẫn đến thất bại. Những quan điểm trái ngược nhau này đã vi phạm nguyên tắc tổ chức, làm ảnh hưởng đến mục đích của Đảng và danh dự cá nhân. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư Đảng đã viết bài đăng trên báo Dân chúng uốn nắn những tư tưởng đó.

Sau đó, những bài báo này được Tập sách Dân chúng đã xuất bản thành cuốn Tự chỉ trích (năm 1939). Bìa cuốn sách ghi: “TỰ - CHỈ - TRÍCH của Trí Cường - Tập sách Dân chúng. 1939’’. Đây là cuốn sách quan trọng của Đảng do đồng chí Nguyễn Văn Cừ (với cương vị là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương từ tháng 3-1938) viết và cho xuất bản với bút danh Trí Cường. Cuốn sách đã nêu rõ những nguyên tắc quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa đảng viên với tổ chức đảng trong tự phê bình và phê bình. Cuốn sách đánh giá cao thái độ công khai của những người cộng sản chân chính trong mọi hoạt động cách mạng. Người cộng sản phải nhìn thẳng vào sự thật, thấy rõ những mặt mạnh để phát huy và những điểm yếu cần kiên quyết khắc phục. Cuốn Tự chỉ trích của Nguyễn Văn Cừ là ấn phẩm tiêu biểu nhất mà Tập sách Dân chúng đã đóng góp cho hoạt động xuất bản cách mạng trước năm 1945.

Đồng chí Phan Đăng Lưu (1902-1941), một lãnh tụ của Đảng trong những năm 1936-1939, đã viết nhiều tác phẩm để tuyên truyền những vấn đề chính trị, xã hội và tư tưởng cộng sản. Sau bảy năm bị giam cầm trong nhà tù đế quốc ở Buôn Ma Thuột, năm 1936, ra tù, Phan Đăng Lưu đã trực tiếp chỉ đạo các tờ báo: Sông Hương tục bản, Dân và Nhà xuất bản Tư tưởng mới ở Đà Nẵng. Những tác phẩm đã xuất bản: Xã hội tư bản, Nhà xuất bản Tư tưởng mới, Đà Nẵng, năm 1937;  Thế giới cũ và thế giới mới, Nhà xuất bản Tư tưởng mới, Đà Nẵng, năm 1938; Thi văn các chí sĩ Việt Nam, Nhà xuất bản Tân Thanh, Huế, năm 1939[4].

4. Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936-1939), việc xuất bản sách của Đảng có rất nhiều phương thức hoạt động phong phú, sáng tạo và cũng là lần đầu tiên, Đảng tiến hành đấu tranh hợp pháp thông qua xuất bản sách công khai. Hoạt động đó là thời cơ thuận lợi hiếm có để tuyên truyền, tập hợp, tổ chức quần chúng. Chưa bao giờ sách của Đảng được phát hành rộng rãi như thời kỳ này, đồng thời nó còn là đầu mối liên lạc giữa hoạt động hợp pháp và hoạt động bí mật. Nhận thức được tầm quan trọng và thời cơ đó, trong Nghị quyết của Hội nghị Trung ương tháng 3 năm 1938 có nhấn mạnh: “Hội nghị quyết định mỗi đồng chí nên hy sinh một ít tiền mà mua sách báo rồi cho người khác xem. Mỗi chi bộ ít nhất phải mua mỗi thứ mấy quyển để tuyên truyền con đường chính trị của Đảng trong quần chúng, sau nữa để giúp sách báo công khai sống, đó là bổn phận của mỗi đảng viên”[5]. Tiêu biểu là trường hợp của đồng chí Khuất Duy Tiến, người đã bỏ tiền ra để in và xuất bản cuốn Nghiệp đoàn lao động, các đồng chí Hoàng Hữu Nam, Sơn Trà, Triệu Văn Nam đã bỏ tiền riêng và quyên góp xuất bản Ngục Kon Tum, Giai cấp là gì, Chính phủ là gì[6].

Lúc bấy giờ, ở Hà Nội, Đảng có hiệu sách Đồng Xuân nổi tiếng với Nhà in Tiến Bộ, ở Huế có hiệu sách Hương Giang, ở Đà Nẵng có hiệu sách Việt Quang, ở Sài Gòn có hiệu sách Tân văn hoá. Ở một số tỉnh, có cả hiệu sách ở huyện làm đại lý... Các nhà xuất bản và hiệu sách này đều được Đảng tài trợ về mặt tài chính, còn công việc phát hành do đảng viên và quần chúng cách mạng đảm nhiệm.

Trong các hoạt động ấn loát và xuất bản phục vụ tuyên truyền cách mạng trước năm 1945, có công việc rất khó khăn gian khổ nhưng vô cùng quan trọng, đó là biên soạn và in những tờ truyền đơn, lời kêu gọi, yết thị, tuyên ngôn của các tổ chức tiền thân, các tổ chức quần chúng của Đảng và của Đảng Cộng sản. Những tờ truyền đơn thường in bằng chữ quốc ngữ, bằng mực đỏ hay tím trên nhiều khổ giấy với chất liệu khác nhau. Trong thập niên 1930, nhiều truyền đơn in cả chữ Hán và chữ Pháp.

Đội ngũ công nhân các xưởng in đã đóng góp quan trọng cho các hoạt động tuyên truyền, vận động cách mạng, từ tham gia in tài liệu, truyền đơn đến trực tiếp đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm. Trong thời kỳ 1936-1938, nhiều truyền đơn, lời kêu gọi được in công khai tại các nhà in, sau khi in nộp một tờ cho cơ quan an ninh. Nhà in Bảo Tồn, số 175, Đại lộ Dela Somme (phố Hàm Nghi) Sài Gòn là nơi đã in nhiều tài liệu, lời kêu gọi của Uỷ ban hành động bồi bếp Sài Gòn, như ngày 15-9-1936 đã in 3.000 tờ; Uỷ ban hành động Phú Nhuận ngày 16-9-1936 in 2.000 tờ trên giấy thường màu trắng khổ 16x24,5cm...1. Trong một tờ truyền đơn của Đảng Cộng sản Đông Dương gửi “Anh chị em công nhân và đồng bào đau khổ’’ xuất hiện tại Nhà máy xe lửa Gia Lâm tháng 4-1941 đã nhắc đến các cuộc đấu tranh của công nhân các xưởng in ở Hà Nội.

Những tác phẩm truyện ký của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh ở Pari (1922 - 1925), Nhật ký trong tù (1942 - 1943), những tiểu luận của Hải Triều, ký sự của Lê Văn Hiến (Ngục Kon Tum), Trần Đình Long (Ba năm ở Nga Xôviết), tiểu thuyết của Cựu Kim Sơn (Vượt ngục) trong thời kỳ Mặt trận dân chủ... đã đặt nền móng cho nền văn học cách mạng sau năm 1945.

Sau khi Đảng ta công bố Đề cương văn hóa (1943), và đặc biệt sau khi thành lập Hội văn hoá cứu quốc (1944), nhiều nhà văn, nhà báo có tên tuổi đã tham gia lực lượng xuất bản sách báo cách mạng như: Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Học Phi, Vũ Quốc Uy, Tô Hoài...

Như vậy, đã xuất hiện một khuynh hướng xuất bản hoàn toàn mới về mục tiêu, nội dung và đối tượng hướng tới, đó là xuất bản sách báo theo khuynh hướng mácxít ở nước ta và chính nó đã góp phần tạo nên diện mạo mới của xuất bản Việt Nam từ đầu thế kỷ XX.



[1]. Trần Đình Hượu - Lê Chí Dũng: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời, Nxb. Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1988, tr.20-21.

[2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t.2, tr.262.

[3]. Tài liệu này được in lại trong sách Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t.2, từ trang 39 đến 54.

[4]. Tác giả Nghệ Tĩnh: thế kỷ XX, Sở Văn hoá - Thông tin Nghệ Tĩnh, 1990, t.1, tr. 66.

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, 2000, t.6, tr.360.

[6]. Lịch sử xuất bản Việt Nam (sơ thảo), Cục Xuất bản, Hà Nội, 1996, tr.53-54.

1. Tuyên truyền cách mạng trước năm 1945. Sưu tập tài liệu lưu trữ, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2001, tr. 177, 182.

Trích trong cuốn Xuất bản Việt Nam trong những năm đổi mới đất nước;

Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011.

Bình luận